T7, 06 / 2018 10:30 chiều | htpt

 

Trong xu thế giao lưu và hội nhập quốc tế, lĩnh vực văn hóa chịu tác động không hề nhỏ và bắt đầu nảy sinh những vấn đề cần giải quyết. Một trong những vấn đề đó chính là mâu thuẫn giữa các quan điểm trong việc quản lý văn hóa, trong đó có hoạt động lễ hội.  Bên cạnh những lợi ích đem lại từ lễ hội như tạo không gian sinh hoạt văn hóa tinh thần chung của cộng đồng; bảo lưu, gìn giữ và trao truyền các giá trị văn hóa đặc sắc của cộng đồng, thì cũng có một số lễ hội như lễ hội Chém lợn (ở làng Ném Thượng, tỉnh Bắc Ninh), lễ hội Chọi trâu (ở Đồ Sơn, Hải Phòng), lễ hội Đâm trâu (ở Tây Nguyên) … cũng gây không ít tranh cãi, trong đó có nhiều ý kiến đề xuất nên loại bỏ các lễ hội này. Đứng trước vấn đề trên, đâu là nguyên tắc định hướng cho sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động lễ hội hiện nay? Tác giả xin đưa ra một nguyên tắc định hướng: “Tôn trọng quyền văn hóa” của người dân trong việc tổ chức và quản lý lễ hội.

Lễ hội 2018

Nguồn: http://vietnamnet.vn/

Lễ hội chọi trâu (Đồ Sơn Hải Phòng)

 

Nguyên tắc tôn trọng quyền văn hóa là gì?

Một trong những nguyên tắc cơ bản cho sự can thiệp của nhà nước vào đời sống xã hội nói chung chính là nguyên tắc quyền con người. Điều này có nghĩa là nhà nước phải bảo vệ và thực thi các quyền con người trong thực tiễn quản lý. Cần phải khẳng định quyền văn hóa là một bộ phận của quyền con người. Trong đời sống cũng như hoạt động sinh hoạt tinh thần của người dân, tôn trọng quyền văn hóa là một trong những nguyên tắc căn bản định hướng cho hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa. Để hiểu rõ nguyên tắc này, chúng ta sẽ làm rõ “quyền văn hóa” là gì?

 “Quyền văn hóa” trong Hiến pháp 2013 được quy định: Quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ hoạt động đó (Điều 40); quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41). Từ đây, chúng ta có thể thấy quyền văn hóa theo hiến định được thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, quyền văn hóa chính là quyền được hưởng thụ về văn hóa. Hay nói cách khác, người dân và cộng đồng có quyền đòi hỏi hưởng thụ sinh hoạt văn hóa. Bởi lẽ, con người với tư cách vừa là chủ thể sáng tạo văn hóa vừa là đối tượng thụ hưởng văn hóa. Do vậy, quyền được hưởng thụ về văn hóa là là một nhu cầu chính đáng và là quyền cơ bản, tất yếu của con người. Mỗi cá nhân đều có quyền thụ hưởng các giá trị văn hóa do dân tộc và nhân loại sáng tạo ra trong lịch sử. Trong quá trình lịch sử phát triển, các giá trị văn hóa được cộng đồng bảo lưu, giữ gìn, vận hành trong đời sống và chuyển tiếp giữa các thế hệ - vừa là phương thức bảo lưu văn hóa, vừa là phương thức để phát triển văn hóa. Chính điều này đặt ra một yêu cầu quan trọng là Nhà nước - với tư cách chủ thể quản lý xã hội nói chung và quản lý về văn hóa nói riêng cần phải đáp ứng nhu cầu hưởng thụ về văn hóa cho người dân và cộng đồng dân cư. Nhà nước cần tạo ra những sinh hoạt văn hóa, phổ biến những tinh hoa văn hóa của đất nước và thế giới. Đây là nhiệm vụ trọng tâm, căn bản của nhà nước và các cơ quan văn hóa nghệ thuật mà ở Việt Nam, đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của ngành văn hóa.

Thứ hai, quyền văn hóa là quyền tham gia vào đời sống văn hóa. Trong khía cạnh này, sự tham gia vào đời sống văn hóa có ý nghĩa là quyền được thể hiện và thực hành văn hóa, hay nói cách khác, các cá nhân và cộng đồng có quyền được bày tỏ, thể hiện những sáng tạo mang tính riêng, cá nhân của mình. Đây là một quyền đang được nhiều quốc gia, nhiều tổ chức và nhà nghiên cứu quan tâm đến đặc biệt đặt trong bối cảnh thế giới đề cao tính đa dạng của văn hóa như hiện nay. Việc tham gia vào đời sống văn hóa không phải là “quyền riêng” của bất kỳ một đối tượng nào, chẳng hạn như đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ và những người làm công tác quản lý văn hóa - văn nghệ như cách hiểu bấy lâu nay, mà mọi người dân Việt Nam, không phân biệt tuổi tác, giới tính, giai cấp, thành phần, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng… đều có thể và có quyền tham gia tất cả các hoạt động văn hóa theo khả năng, sở thích, nhu cầu, sở trường, mong muốn của mình. Việc mọi người được tham gia vào đời sống văn hóa sẽ góp phần làm phong phú đời sống tinh thần cho mỗi cá nhân và toàn xã hội. Thực tế lịch sử đã chứng minh, nhân dân không chỉ hưởng thụ các giá trị văn hóa, mà còn là người trực tiếp hay gián tiếp sáng tạo ra các giá trị văn hóa. Rất nhiều hình thức, loại hình văn hóa nghệ thuật, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, nghi lễ, ... bắt nguồn từ cuộc sống, lao động, sinh hoạt vô cùng phong phú của nhân dân. Có thể khẳng định, nhân dân là tác giả, là chủ nhân của những sản phẩm văn hóa đặc sắc, có giá trị nhân văn và tính giáo dục sâu sắc được truyền từ đời này sang đời khác.

Thứ ba, quyền văn hóa là quyền sử dụng các cơ sở văn hóa.  Hiện nay, để văn hóa thấm sâu vào đời sống, gắn với đời sống hằng ngày thì phải có một cơ sở vật chất vững chắc cho văn hóa tồn tại - đó chính là cơ sở văn hóa, các thiết chế văn hóa. Vậy, thực chất của quyền này là xác lập quyền sở hữu toàn dân về các cơ sở văn hóa, các thiết chế văn hóa mà Nhà nước, xã hội và cộng đồng đã xây dựng như: Khu vui chơi giải trí công cộng, công viên, nhà văn hóa, điểm bưu điện văn hóa xã, thư viện, sân vận động, rạp hát, rạp chiếu phim, điểm internet công cộng… Những cơ sở, thiết chế văn hóa này là tài sản chung nên mọi người đều có quyền sử dụng để đáp ứng những nhu cầu chính đáng của mình. Nhà nước, chính quyền các cấp chỉ ủy quyền cho tổ chức, cá nhân quản lý các cơ sở, thiết chế văn hóa, còn mọi người dân đều có quyền sử dụng các cơ sở, thiết chế văn hóa đó để phục vụ nhu cầu học tập, vui chơi, giải trí… của mình, tránh các trường hợp thu tiền, thu phí trái với mục đích, quy định của pháp luật, cản trợ nhu cầu thụ hưởng giá trị văn hóa của người dân.

Thứ tư, quyền văn hóa là quyền tiếp cận các giá trị văn hóa. Văn hóa là những giá trị tốt đẹp đã được hình thành, kết tinh, hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, là thành quả lao động sáng tạo của thế hệ này tiếp thế hệ khác. Vì vậy, mỗi người dân không chỉ có quyền nghiên cứu, tiếp cận các giá trị văn hóa của dân tộc mình, mà còn được tiếp cận, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác trên thế giới. Trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, việc hiến định quyền tiếp cận các giá trị văn hóa là tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội được mở rộng giao lưu, học hỏi, tiếp thu những giá trị nhân văn cao cả đã được nhân loại tiến bộ thừa nhận, qua đó không ngừng làm giàu giá trị văn hóa cho mỗi cá nhân và cộng đồng, dân tộc. Mỗi cộng đồng, mỗi cá nhân đều có quyền tiếp cận với các giá trị văn hóa và Nhà nước cần đảm bảo nhu cầu ấy, trực tiếp cung ứng dịch vụ văn hóa hoặc có chính sách khuyến khích cho các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, các tổ chức, cá nhân khác cung ứng dịch vụ văn hóa đáp ứng nhu cầu của nhân dân.

Như vậy, bốn nội dung trên tạo nên một thể thống nhất quyền văn hóa của con người. Đó được xem là một trong những quyền căn bản nhất của quyền con người và thể hiện tính nhân văn sâu sắc. Bỡi lẽ, một khi con người được thực hiện quyền văn hóa sẽ tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển hài hòa giữa thể chất và tâm hồn, giữa lý trí và tình cảm của con người, làm cho con người ngày càng tiến gần hơn các giá trị “chân - thiện - mỹ”.

Tuy nhiên, bên cạnh nội hàm của quyền văn hóa được Hiến pháp 2013 quy định ở trên thì nội hàm của quyền văn hóa này còn được mở rộng ra. “Quyền văn hóa là quyền được tôn trọng và thừa nhận các phong tục, tập quán, lịch sử hay những sự khác biệt về văn hóa”[1]. Văn hóa là của cộng đồng người khác nhau, được truyền dạy và kế thừa từ đời này sang đời khác. Qua quá trình lịch sử, nó tạo nên bản sắc văn hóa của mỗi nhóm người, cộng đồng người khác nhau. Do vậy, có thể nói không có văn hóa chung cho cả thế giới. Điều này cũng có nghĩa không có văn hóa cao hay thấp, mọi sự so sánh đều là khập khiễng. Sự tôn trọng đối với văn hóa của mỗi tộc người, nhóm người nói chung và mỗi cá nhân nói riêng cũng là một phần của quyền văn hóa. Mỗi cá nhân có quyền theo hoặc không theo tôn giáo nào, có quyền theo hoặc không theo phong tục nào, có quyền được thừa nhận về sở thích văn hóa của mình mà không bị phân biệt đối xử.

Như vậy, từ những nội hàm của quyền văn hóa, chúng ta có thể hiểu nguyên tắc “tôn trọng quyền văn hóa” thực chất là Nhà nước, các cá nhân, tổ chức… cần phải bảo vệ thực thi các quyền: được hưởng thụ về văn hóa; tham gia vào đời sống văn hóa; sử dụng các cơ sở văn hóa; tiếp cận các giá trị văn hóa; được tôn trọng và thừa nhận các phong tục, tập quán, lịch sử hay những sự khác biệt về văn hóa của người dân trong thực tiễn.

Tại sao trong hoạt động tổ chức và quản lý lễ hội cần phải áp dụng nguyên tắc “tôn trọng quyền văn hóa”?

%image_alt%

Múa rồng tại lễ hội Bà Chúa sứ núi Sam - ảnh:Trần Lợi

Thứ nhất: văn hóa là của nhân dân - nhân dân là chủ thể sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa.

Thứ hai, hiện nay chúng ta đang đứng trước những biến động lớn mà xu hướng đồng nhất các giá trị văn hóa đang diễn ra. Vì vậy, việc tôn trọng quyền văn hóa thực chất là đảm bảo tính đa dạng, nét riêng, nét độc đáo của văn hóa tộc người, văn hóa riêng của cộng đồng và mở rộng ra chính là văn hóa của mỗi dân tộc.

Thứ ba, đặt trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, đặc biệt khi mà xã hội dân sự đang dần tìm chỗ đứng như ở Việt Nam hiện nay thì việc áp dụng nguyên tắc tôn trọng quyền văn hóa sẽ giúp các nhà quản lý có những chính sách văn hóa thích hợp. Nhà quản lý sẽ hiểu thêm về những gì người dân cần và từ đó hoạch định những chính sách phù hợp với những yêu cầu văn hóa của người dân.

Vậy áp dụng nguyên tắc này trong công tác tổ chức và quản lý lễ hội như thế nào?

Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý cần phải xử lý được những mâu thuẫn từ chính “quyền văn hóa” của người dân với thực tiễn sinh hoạt văn hóa (hoạt động lễ hội) đặt ra. Vì vậy, trong việc tôn trọng, thừa nhận các phong tục, tập quán, lịch sử hay những sự khác biệt về văn hóa, trong đời sống văn hóa của người dân, mặc dù có nhiều lễ hội gây tranh cãi trong dư luận đã đặt ra một vấn đề lớn: nên duy trì hay dẹp bỏ những lễ hội đó, thì nhà quản lý cần xử lý điều đó như thế nào để vẫn đảm bảo quyền của người dân mà vẫn đảm bảo mục tiêu phát triển một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, phù hợp với những giá trị phổ quát trên thế giới? Do vậy, nên chăng cần lựa chọn một phương án trung hòa hơn cho vấn đề này, chẳng hạn như thay đổi một số nghi lễ để phù hợp hơn với bối cảnh chung hiện nay.

Nhà nước cần có những chính sách tạo điều kiện cho người dân có thể hưởng thụ và phát huy quyền văn hóa của mình trong thực tế. Mặt khác, mọi biểu hiện, hành vi ngăn cấm, cản trở, hạn chế hay xâm hại những quyền cơ bản đó đều là vi hiến, nên cần phải có những hình thức, chế tài xử lý phù hợp.

Đồng thời, trong việc xác định các phương thức can thiệp, nhà quản lý cũng cần dẹp bỏ tư duy “quản không được thì bỏ” bằng các biện pháp hành chính pháp luật cứng nhắc. Đặc biệt trong những lĩnh vực nhảy cảm, gắn với truyền thống, với phong tục tập quán thì phương thức quản lý cần phải linh hoạt, mềm dẻo và chủ yếu lấy phương pháp giáo dục, thông tin, tuyên truyền tới chủ nhân của các lễ hội để họ tự ý thức được việc thay đổi như thế nào cho phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế xã hội như hiện nay. Cần phải nhấn mạnh “trong văn hóa không có đúng sai, điều quan trọng là hợp lý hay không hợp lý”.

Như vậy, qua việc nghiên cứu nội hàm quyền văn hóa, đặt trong bối cảnh xã hội nước ta hiện nay thì việc tôn trọng và thực thi những quyền con người, trong đó có quyền văn hóa vừa là một yêu cầu vừa là đòi hỏi bức thiết hiện nay. Quản lý văn hóa phải tôn trọng quyền văn hóa của người dân trở thành một nguyên tắc định hướng trong quá trình tổ chức và quản lý lễ hội. Do vậy, các nhà quản lý cần phải có cái nhìn mới, thay đổi tư duy quản lý lẫn phương thức quản lý phù hợp để vừa phát huy giá trị văn hóa của các lễ hội vừa đảm bảo đạt được mục tiêu quản lý về văn hóa nói chung trong từng giai đoạn phát triển.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn (2014), Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, NXB Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội.
  2. Hiến pháp 2013.

THÔNG TIN TÁC GIẢ:

Họ tên: Nguyễn Thị Huệ

Địa chỉ: Bộ môn Quản lý nhà nước về Xã hội – Phân viện Học viện Hành chính Quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh, số 10, đường 3 tháng 2, phường 12, quận 10, TP. Hồ Chí Minh.

Học vị: Thạc sỹ

Điện thoại: 0966894011

Email: hue.napa@gmail.com

 

[1] Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn (2014), Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, NXB Chính trị quốc gia –sự thật, Hà Nội, tr.422.

.
Bài viết cùng chuyên mục