T3, 02 / 2018 5:37 chiều | htpt
  • LÝ CÔNG UẨN (974 – 1028): Sinh năm Giáp Tuất, quê Bắc Ninh, vị vua khai sáng nhà Lý. Thuở nhỏ, làm con nuôi của các nhà sư (Lý Khánh Văn, Vạn Hạnh). Khi trưởng thành, nhờ thông minh, hiếu học, văn võ song toàn. Thời Lê Ngọa Triều, được thăng đến chức Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ, vì thế sử cũ thường gọi là Thân vệ. Năm 1009, Lê Ngọa Triều mất, các đại thần và các nhà sư đã nhất trí tôn ông lên ngôi vua. Năm 1010, ông chính thức đăng quang, xưng là Lý Thái Tổ, quyết định dời đô từ Hoa Lư về Đại La và đổi tên thành Thăng Long, mở ra một thời kỳ phát triển của đất nước. Trong thời gian ở ngôi vua, Lý Thái Tổ luôn luôn chăm lo ổn định sản xuất, cải cách mạnh mẽ công quyền, kinh tế, văn hóa, giáo dục, chấn hung Phật giáo. Đất nước yên bình.
  • TRẦN QUỐC TUẤN (1226 – 1300): Tức Hưng Đạo Vương, sinh năm Bính Tuất, quê Nam Định, anh hùng dân tộc, nhà chỉ huy quân sự kiệt xuất. Năm 1258, ông được vua Trần Thái Tông cử làm Tiết chế, chỉ đạo cuộc kháng chiến chống quân Nguyên thắng lợi. Năm 1284, quân Nguyên chuẩn bị xâm lược lần thứ hai, ông lại được cử làm Tiết chế Quốc công thống lĩnh các lực lượng quân sự. Tháng 5 – 1285, ông ra lệnh tổng phản công, thắng lớn ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương. Năm 1288, quân Nguyên sang xâm lược lần thứ ba, ông quyết định đánh chúng trên sông Bạch Đằng. Tháng 4 – 1288, thủy quân giặc bị tiêu diệt , bộ binh bị truy đuổi đến biên giới. Kháng chiến hoàn toàn thắng lợi. Ông được vua Trần phong tước Đại Vương và nhân dân suy tôn là Đức Thánh Trần.
  • NGUYỄN CHÍCH (1382 – 1448): Sinh năm Nhâm Tuất, quê Thanh Hóa, danh tướng thời Hậu Lê. Khi quân Minh xâm lược nước ta, Nguyễn Chích đã lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa khá lớn, lực lượng hơn một ngàn người. Ông cho quân đi đánh phá các vùng Đông Sơn, Nông Cống, Ngọc Sơn… khiến giặc Minh phải chống đỡ rất vất vả. Cuối năm 1420, Nguyễn Chích đem toàn bộ lực lượng về phò tá Lê Lợi, được Lê Lợi phong làm Thiết đột Hữu vệ, sau đó thăng chức Nhập nội Thiếu úy cho đến khi khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng năm 1427. Nguyễn Chích đã tận tụy phục vụ 3 đời vua (Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông). Là người dày kinh nghiệm trận mạc cộng với bộ óc chiến lược tài ba, ông xứng đáng với chức Tổng quản Chư quân với những chiến công đánh quân Minh phía Bắc, giặc Chiêm Thành phương Nam và dẹp yên nhiều cuộc nội loạn.
  • LÊ THÁNH TÔN (1442 – 1497): Tên thật là Lê Tư Thành, sinh năm Nhâm Tuất, quê Thanh Hóa, con thứ tư của Lê Thái Tông. Ông là vị vua xuất sắc nhất thời Hậu Lê, thông tuệ, phong nhã, tài đức vẹn toàn. Với những cải cách toàn diện và phát triển vượt bậc về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… được coi là thời kỳ thịnh vượng nhất của chế độ phong kiến Việt Nam. Lê Thánh Tông còn là nhà thơ lớn, lập ra Hội thơ Tao Đàn danh tiếng và để lại nhiều tác phẩm có giá trị như Hồng Đức quốc âm thi tập, Cổ tân bách vịnh, Văn minh cổ súy, Xuân vân thi tập…
  • MẠC THIÊN TỨ (1706 – 1780): Sinh năm Bính Tuất, quê Kiên Giang, danh sỹ, người mở mang trấn Hà Tiên. Ông tính cương nghị, đa tài, nối nghiệp cha tận tụy phò giúp chúa Nguyễn, được thăng tới Tổng binh Đại đô đốc và có công lớn trong việc thu phục nhân tâm, khẩn hoang lập ấp ở miền Tây Nam Bộ, là tác giả Hà Tiên thập vịnh và là người lập Chiêu Anh Cát. Mạc Thiên Tứ còn là tác giả của nhiều công trình giá trị về lịch sử, thơ ca, nghệ thuật, triết luận.
  • NGUYỄN CƯ TRINH (1706 – 1767): Sinh năm Bính Tuất, người Thừa Thiên – Huế, hiệu Đạm Am. Ông làm quan nổi tiếng thanh liêm và có nhiều công lao: Tuần Vũ Quảng Ngãi; Tuần Vũ Quảng Bình, Tham mưu thống lĩnh quân binh vào Gia Định đánh vua Chân Lạp là Nặc Ông Nguyên. Năm 1755, ông tiến quân chiếm thành Nam Vang, Nặc Ông Nguyên chạy sang Hà Tiên nhờ Mạc Thiên Tích bảo đảm tính mạng và xin tha giùm; Nguyễn Cư Trinh đã chấp thuận. Ông là người lỗi lạc về Văn học. Nguyễn Cư Trinh mất khi đang làm Lại Bộ Thượng thư kiêm Tào Vận Sứ tước Nghi Biểu Hầu. Đến đời vua Minh Mạng, nhà Nguyễn tấn phong ông là Tân Minh Hầu cho tòng tự ở Thái Miếu. Nguyễn Cư Trinh là tác giả Đạm Am văn tập, Hà Tiên thập vịnh, Sãi Vãi.
  • NGUYỄN CÔNG TRỨ (1778 – 1858): Sinh năm Mậu Tuất, quê Hà Tĩnh, nho sỹ tài năng thế kỷ XIX. Ông đỗ Giải nguyên năm 41 tuổi, làm quan qua các chức tri huyện, Án sát, Chủ sự Hình bộ… Được cử làm Doanh điền sứ, tổ chức khai hoang, lập nên huyện Tiền Hải (Thái Bình), Kim Sơn (Ninh Bình). Năm 1840, Nguyễn Công Trứ về Huế làm Đô ngự sử rồi Tham tri Binh bộ. Ham hoạt động và luôn tin ở long thành của mình, ông luôn tận tâm trong mọi nhiệm vụ được giao. Là người giàu tài năng, giàu ý chí, cương trực, thanh liêm, được nhiều người khâm phục. Cuộc đời quan chức đầy thăng trầm của ông đã thể hiện qua sáng tác thơ phú, nói về nhân tình thế thái, ý chí nam nhi và cảnh sống của mình. Năm 1858, khi đã vào tuổi 80, hay tin quân Pháp nổ sung tấn công Đà Nẵng, ông vẫn viết đơn xin vua cho cầm quân đánh giặc. Cuối năm đó, ông qua đời.
  • NGUYỄN VĂN CẨM (1874 – 1929): Sinh năm Giáp Tuất, quê Thái Bình, nhân sỹ cận đại. Ông từ bé đã cực kỳ thông minh, giỏi thơ phú, khiến vua Tự Đức khen ngợi, ban danh hiệu Kỳ Đồng. Sẵn long yêu nước, lại được ngưỡng mộ, năm 13 tuổi, Nguyễn Văn Cẩm được nhân dân tôn làm thủ lĩnh phong trào kháng Pháp. Giặc đàn áp, bắt ông đưa sang Algeria. Năm 1896, ông về nước, gia nhập khởi nghĩa của Mạc Đình Phúc, trở thành cố vấn. Ông cũng liên kết với khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo. Giặc Pháp phát hiện, bắt ông đem đày chung thân tại Polynesia trên Thái Bình Dương.
  • BẠCH THÁI BƯỞI (1874 – 1932): Sinh năm Giáp Tuất, quê Hà Nội, doanh nhân, đứng đầu Công ty Bạch Thái Bưởi ở Hải Phòng, có tàu chạy khắp đường sông ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Công ty đã đóng được tàu trọng tải 200 tấn, từng là “đối thủ tiêu biểu của doanh nhân Hoa Kiều”. Bạch Thái Bưởi cũng đứng ra kinh doanh, mở nhà in lớn tại Hà Nội. Nghị lực cao, chí khí lớn, giỏi kinh doanh lại giàu đức độ và lòng từ thiện, ông được coi là doanh nhân sáng giá trong lịch sử kinh tế nước nhà.
  • DƯƠNG QUẢNG HÀM (1898 – 1946): Sinh năm Mậu Tuất, quê Hưng Yên. Năm 1920, ông Tốt nghiệp Thủ khoa Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương. Từ năm 1920 đến 1945, ông làm giáo viên trường Bưởi (trường Chu Văn An ngày nay). Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Dương Quảng Hàm được bổ nhiệm làm Thanh tra Trung học vụ, rồi làm hiệu trưởng trường Bưởi. Tất cả những nhà viết sách giáo khoa văn học đều căn cứ vào mấy bộ sách của ông. Các tác phẩm gồm có: Văn học Việt Nam (3 quyển), Việt Nam Văn học sử yếu, Việt Nam Thi Văn hợp tuyển, Quốc Văn trích diễm, Việt Văn giáo khoa thư (2 quyển) và nhiều sách viết bằng tiếng Pháp.
  • NGUYỄN THỊ MINH KHAI (1910 – 1941): Sinh năm Canh Tuất, quê Nghệ An, nhà hoạt động cách mạng. Thuở nhỏ vào học trường Cao Xuân Dục. Năm 1927, gia nhập Đảng Tân Việt, có chân trong Ban chấp hành Đảng bộ. Năm 1930, bà sang Trung Quốc làm việc tại văn phòng Đông phương – Bộ Quốc tế Cộng sản, bị mật thám Pháp bắt ở Hồng Kông. Năm 1934, được trả tự do; cuối năm này bà cùng Lê Hồng Phong được cử làm đại biểu chính thức đi dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản ở Moscou (Liên Xô cũ). Sau đó, họ kết hôn tại đây rồi cùng vào học trường Đại học Đông phương Stalin. Năm 1936, bà được phân về công tác ở Sài Gòn, tham gia xứ ủy Nam kỳ và phụ trách Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn. Ngày 30 – 7 – 1940, Nguyễn Thị Minh Khai bị Pháp bắt. Trong tù, bà vẫn bí mật liên lạc với tổ chức bên ngoài, tiếp tục lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng và bị giặc Pháp xử bắn ngày 28 – 8 – 1941.
  • TẠ QUANG BỬU (1910 – 1986): Sinh năm Canh Tuất, quê Nghệ An, nhà toán học, nhà hoạt động khoa học và giáo dục. Từ 1946 đến 1954, ông phụ trách những nhiệm vụ quan trọng về Ngoại giao và Quốc phòng. Sau 1954, hòa bình lập lại, ông làm phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học nhà nước và Giám đốc Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (1954 – 1965). Từ 1965 đến 1975, ông làm Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo). Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.
  • NGUYỄN TUÂN (1910 – 1987): Sinh năm Canh Tuất, quê Hà Nội, nhà văn hiện đại. Nguyễn Tuân đi nhiều, trải đời, vốn đời của ông thật dồi dào phong phú. Ông chịu khó tìm đọc đủ loại sách báo nên vốn chữ nghĩa rất giàu có, sâu sắc. Ông bước vào làng báo (Đông Tây nhật tân, Tiểu thuyết thứ bảy, Trung Bắc chủ nhật…) rồi vào làng văn bằng hàng loạt truyện ngắn như Chữ người tử tù, Những chiếc ấm đất, Chén trà trong sương sớm, Thả thơ… in trên các báo Tiểu thuyết thứ bảy, Tao đàn với các bút danh Nhật Lang, Thanh Thủy, Thanh Hà, Tuấn Thừa Sắc. Ông từng là Tổng thư ký Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam và để lại các tác phẩm nổi tiếng: Vang bóng một thời, Chiếc lư đồng mắt cua, Tùy bút kháng chiến, Tùy bút sông Đà, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi.
  • TRẦN ĐĂNG NINH (1910 – 1955): Tức Nguyễn Tuấn Đáng, quê Hà Nội, nhà hoạt động cách mạng. Từ năm 20 tuổi, ông tham gia hoạt động cách mạng được kết nạp vào Đảng Cộng Sản năm 25 tuổi, từng có chân trong Thành ủy Hà Nội và xứ ủy Bắc kỳ. Tháng 11 năm 1940, Trần Đăng Ninh được bầu vào Ban chấp hành lâm thời Trung ương Đảng. Năm 1941, ông bị Pháp bắt khi làm Bí thư xứ ủy Bắc kỳ. Ông đã cùng với đồng chí Nguyễn Lương Bằng vượt ngục trở về. Sau cách mạng tháng Tám 1945, ông tham gia lãnh đạo công tác Dân vận. Năm 1947, ông giữ chức Trưởng Đặc ủy đoàn đi kiểm tra, thăm hỏi cán bộ, nhân dân trong kháng chiến chống Pháp đồng thời thanh tra các vụ tham ô và minh oan cho cán bộ, nhân dân bị tố oan. Năm 1950, ông là chủ nhiệm Tổng cục Hậu Cần (Bộ Quốc Phòng). Ngày 6 tháng 10 năm 1955, ông qua đời khi 45 tuổi.
  • NGUYỄN HỮU THỌ (1910 – 1996): Sinh năm Canh Tuất, quê Long An, luật sư. Sinh trưởng trong một gia đình công chức, năm 1921 được cha mẹ cho sang Pháp du học, tốt nghiệp cử nhân luật năm 1932. Ông mở văn phòng luật sư và tích cực tham gia đấu tranh dân chủ, chống thực dân; từng nhiều lần lãnh đạo các cuộc biểu tình, bị Pháp bắt giam, tra tấn, tù đày. Tháng 11 năm 1954, ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam, nhưng sau đó được lực lượng Cách mạng giải thoát ra vùng chiến khu. Năm 1961, Nguyễn Hữu Thọ được bầu giữ chức Chủ tịch Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam. Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976, ông được cử giữ chức phó Chủ tịch nước. Từ 1980, làm Quyền Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho đến lúc qua đời. Ông đã được phong tặng nhiều danh hiệu cao quý.
  • VÕ VĂN KIỆT (1922 – 2008): Sinh năm Nhâm Tuất, quê Vĩnh Long. Năm 1938, ông tham gia phong trào Thanh niên phản đế. Từ 1941 đến 1945, tham gia Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Rạch Giá. Từ 1959 đến 1970, ông là Bí thư Khu ủy T.4 (Sài Gòn – Gia Định). Năm 1976, ông làm phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 2 năm 1987, ông giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Từ 1992 đến 1997, ông được bầu làm Thủ tướng chính phủ. Từ tháng 12 – 1997 đến 4 – 2001, ông được cử làm Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng. Ngày 11 tháng 6 năm 2008, ông qua đời, thọ 86 tuổi.
  • ĐỖ NHUẬN (1922 – 1991): Sinh năm Nhâm Tuất, quê Hải Dương, nhạc sỹ, Tổng thư ký đầu tiên của Hội Nhạc sỹ Việt Nam. Thuở nhỏ, Đỗ Nhuận tự học âm nhạc và sớm sang tác ca khúc. Năm 17 tuổi, ông sang tác ca khúc đầu tay Trưng Vương. Tiếp theo là Chim than, Lời cha già, Đường lên ải Bắc… Năm 1941, ông tham gia hoạt động Cách mạng. Năm 1943, ông bị Pháp bắt giam vào nhà lao Hải Dương rồi đưa lên Hỏa Lò, và sau bị đày lên Sơn La. Thời gian trong tù, Đỗ Nhuận đã viết nhiều bài hát cách mạng như Chiều tù, Côn đảo, Hận Sơn La, Tiếng gọi tù nhân, Viếng mồ tử sỹ, Du kích ca. Ông là nhạc sỹ Việt Nam đầu tiên viết opera với vở Cô Sao (1965). Đỗ Nhuận đã để lại hơn 100 ca khúc nổi tiếng như Du kích sông Thao, chiến thắng Điện Biên, Việt Nam quê hương tôi, Đoàn lữ nhạc, Hành quân xa, Trông cây lại nhớ đến Người…

 

Bút danh: NGA NGUYỄN

NGUYỄN THỊ DIỆU NGA

Số 80 đường Xuân 68 - Thành phố Huế

Mobile: 094.570.9968

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Đinh Xuân Lâm – Từ điển nhân vật lịch sử VN – NXB Giáo dục – 2005.
  2. Nhiều tác giả - Từ điển Văn học – NXB Thế giới Văn học – 2007.
  3. Nguyễn Khắc Thuần – Danh tướng VN – NXB Giáo dục – 2002.
  4. Trương Hữu Quýnh – Sổ tay kiến thức lịch sử - NXB Giáo dục.
.
Bài viết cùng chuyên mục