T5, 03 / 2017 10:14 chiều | htpt

Hội Phát triển Hợp tác Kinh tế Việt Nam - Lào - Campuchia được thành lập theo Quyết định số 103/QĐ-BNV ngày 13-2-2008 . Hội đã tổ chức Đại hội Thành lập và công bố Quyết định nói trên vào ngày 6-5-2008 tại Nhà hát Lớn Thành phố Hà Nội. Ngày 13-8-2008 Bộ Nội vụ có Quyết định số 1078/QĐ-BNV phê duyệt Điều lệ Hội Phát triển Hợp tác Kinh tế Việt Nam - Lào – Campuchia. Từ đó Hội đã chính thức đi vào hoạt động.
Đến nay Hội đã hoạt động được tròn 8 năm . Từ cuối năm 2013, Hội đã chủ động tích cực chuẩn bị tổ chức Đại hội nhiệm kỳ II . Tuy nhiên , vì một số lý do về thủ tục, đến nay việc chuẩn bị các điều kiện đã hoàn tất và Hội được các cấp có thẩm quyền cho phép tổ chức Đại hội.
Trải qua 8 năm xây dựng và phát triển, Hội đã đạt được nhiều thành tưụ đáng khích lệ, bên cạnh đó cũng còn rất nhiều thách thức đòi hỏi phải được khắc phục để hoạt động có hiệu quả hơn , đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới.
I. Thành tựu đã đạt được
1. Về xây dựng tổ chức và hoạt động của Hội
Đến nay, tổ chức và hoạt động của Hội đã tương đối ổn định và đi vào nề nếp. Ngoài các đơn vị ở Trung ương Hội, cơ cấu tổ chức Hội gồm 6 trung tâm hợp tác, hỗ trợ phát triển; 3 viện nghiên cứu, đào tạo, tư vấn; 4 hội thành viên ở địa phương và Lào, Campuchia ; 3 văn phòng đại diện (tại Lào, Campuchia và thành phố Hồ Chí Minh). Cơ quan thông tin ngôn luận và tuyên truyền của hội gồm: Báo Mê Kông và Tạp chí Hợp tác & phát triển.
Thuận lợi lớn nhất của Hội trong giai đoạn vừa qua là có sự quan tâm, ủng hộ của các cơ quan Trung ương và nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Bộ Nội vụ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong đó trực tiếp là các đồng chí Bộ trưởng,Thứ trưởng, nguyên Thứ trưởng, các đồng chí lãnh đạo một số Cục, Vụ, Viện và Văn phòng Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Nhờ đó, Hội duy trì hoạt động thường xuyên, làm được nhiều việc theo tôn chỉ mục đích của Hội, đóng góp với Đảng, Chính phủ và hỗ trợ nhiều hội viên trong lĩnh vực hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, du lịch với các nước Lào, Campuchia và Myanmar.
Trong BCH Trung ương Hội, cũng có biến động lớn : Số ủy viên ban đầu là 58, trong nhiệm kỳ có 2 đồng chí từ trần, 40 đồng chí nghỉ hưu thôi đảm nhiệm cương vị lãnh đạo các đơn vị hoặc nằm trong các đơn vị đã giải thể nên xin nghỉ. Hiện chỉ còn 20 đồng chí hoạt động, tuy nhiên các đồng chí còn lại vẫn kiên trì làm việc theo mục tiêu của Hội.
2. Hoạt động tuyên truyền về Hội và phát triển hội viên
Ngay sau khi thành lập Hội đã tổ chức nhiều đợt tuyên truyền, quảng bá về Hội tại ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Trung ương Hội đã tổ chức các đoàn công tác sang Lào, Campuchia tiếp xúc với lãnh đạo cấp cao và cộng đồng doanh nghiệp của hai nước để quảng bá về Hội và tạo mối quan hệ hợp tác. Hiện nay, đã có nhiều tổ chức, cá nhân ở hai nước này tham gia hợp tác với Hội.
Ở trong nước, Hội chú trọng phát triển hội viên trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, địa phương đang hoặc thực sự mong muốn triển khai hoạt động hợp tác kinh tế và đầu tư với Lào và Campuchia. Lúc đầu khi gửi đăng ký tới Bộ Nội vụ xin thành lập, Hội chỉ có 43 hội viên tổ chức, doanh nghiệp và khoảng 120 hội viên cá nhân. Đến nay, theo đăng ký, Hội có khoảng 1100 hội viên chính thức, gồm khoảng 500 hội viên là các tổ chức, doanh nghiệp và khoảng 600 hội viên cá nhân. Nhiều hội viên là các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đóng vai trò hàng đầu trong hợp tác kinh tế và đầu tư của nước ta với hai nước Lào và Campuchia. Một số Hiệp hội của doanh nghiệp Việt Nam đang hoạt động ở Lào và Campuchia đã đăng ký làm hội viên tập thể của Hội Phát triển hợp tác kinh tế Việt Nam - Lào - Campuchia như Hội Phát triển hợp tác kinh tế Campuchia- Việt Nam - Lào(CAVILAED), Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam tại Campuchia, Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam hợp tác và đầu tư tại Lào (Viet – Lao BACI)...
Để cung cấp thông tin cho hội viên, từ năm 2008, Hội đã xây dựng được Trang thông tin điện tử và Bản tin của Hội. Đến nay, Hội đã có trang web tương đối tốt, đã có tờ báo và tạp chí riêng (Báo Thời báo Mêkông và Tạp chí Hợp tác và Phát triển). Hội đã xuất bản nhiều ấn phẩm hướng dẫn đầu tư sang Lào và Campuchia , tiêu biểu như sách “Hệ thống các văn bản pháp quy đầu tư vào Lào”(2008), “Văn bản hướng dẫn hợp tác kinh tế, đầu tư, thương mại với Campuchia” (2009), bộ sách 3 tập “Văn bản hợp tác Việt Nam – Lào” (2000-2012), hợp tác với Cục Đầu tư nước ngòai Bộ Kế hoạch và Đầu tư xuất bản 2 tài liệu “Hướng dẫn đầu tư, thương mại vào Campuchia và Lào” (2010); Báo cáo “Tình hình đầu tư của Việt Nam vào Lào và Campuchia 2013”...
3. Về hoạt động chuyên môn, hợp tác kinh tế và đầu tư
Hội đã tổ chức nhiều hoạt động xã hội để quảng bá Hội như tổ chức đòan xe đạp từ Hà Nội đi Viêng Chăn trong Chương trình hưởng ứng năm hữu nghị Việt Nam – Lào (2012); Chủ trì phối hợp với Hội doanh nghịêp Việt Nam hợp tác và đầu tư tại Lào và Bộ Kế hoạch và Đầu tư... tổ chức thành công Chương trình chào mừng kỷ niệm 450 năm Thủ đô Viêng Chăn, 1000 năm Thăng Long – Hà Nội tại Viêng Chăn (2010); Tổ chức giao lưu hội viên nhân kỷ niệm 3 năm thành lập Hội (2011)... Ngòai ra Hội cũng chủ trì hoặc tham gia tổ chức nhiều đợt làm thiện nguyện tại các tỉnh Việt Nam và Lào có chung đường biên giới...
Đã tổ chức hàng năm nhiều diễn đàn, hội nghị, hội thảo, hội chợ với các chủ đề khác nhau để giới thiệu, phân tích, đánh giá về môi trường đầu tư, tình hình đầu tư, cơ chế chính sách đầu tư và các dự án kêu gọi đầu tư của Lào và Campuchia tại nhiều địa phương trên cả nước và tại hai nước bạn, như các Hội nghị góp ý về đầu tư vào Lào và Campuchia (2010, 2011), Tọa đàm về cơ chế chính sách đầu tư thương mại Việt Nam – Lào – Campuchia năm (2011, 2013); Tọa đàm giới thiệu đầu tư vào một số tỉnh ở Lào và Campuchia (2010, 2012); Đối thoại doanh nghiệp ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia; Hội thảo về hợp tác 6 nước tiểu vùng sông Mê Kông; Cùng một số địa phương tổ chức các chuyến khảo sát, tiếp xúc nhằm phát triển đầu tư vào Luông Nậm thà, Bò li khăm xay, Hủa Phăn, Chăm pa sac, Xiêng Khoảng... Trong 4 năm gần đây (2013-2016) đã mở rộng các hoạt động sang Myanmar, Thái Lan. Đặc biệt năm 2013 đã tổ chức rất thành công “Tọa đàm Myanmar – thị trường mới nổi”, thu hút rất đông các đối tượng tham gia.
Hội chủ trì hoặc tham gia với các hội, hịêp hội , đơn vị thuộc Hội và cơ quan khác tổ chức 6 chương trình trao các giải thưởng tôn vinh doanh nghiệp, doanh nhân tiêu biểu trong hợp tác Việt Nam, Lào và Campuchia.
Hàng năm, Hội đều có các hoạt động hội thảo phản biện xã hội và tư vấn chính sách liên quan đến hợp tác kinh tế và đầu tư của nước ta với Lào và Campuchia, tập hợp ý kiến các doanh nghiệp, gửi kiến nghị tới các cơ quan quản lý liên quan của Nhà nước nhằm tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp. Gần đây nhất, là góp ý sửa đổi Nghị định 78/2006/NĐ-CP của Chính phủ về đầu tư trực tiếp ra nước ngòai, góp ý sửa đổi “Luật đầu tư” (2014), dưới hình thức hội nghị và báo cáo gửi Chính phủ, được đánh giá cao.
Từ năm 2011 đến 2015 đã chủ trì cùng với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức hàng năm Chương trình Mê Kông dưới hình thức diễn đàn với nhiều chủ đề khác nhau. Diễn đàn Mê Kông thường niên 2014 với chủ đề “Cộng đồng kinh tế ASEAN 2015: Cơ hội và thách thức” được tổ chức vào tháng 10/2014, thu hút hơn 200 khách tham dự. Kết thúc diễn đàn, đã xây dựng tập Kỷ yếu làm tài liệu cho các doanh nghiệp, các nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách. Các thông tin, kiến nghị hữu ích được Hội tổng hợp gửi đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý.Tháng 10-2015 Diễn đàn Mê Kông 2015 với chủ đề “Đẩy mạnh hợp tác đầu tư, thương mại vào Tiểu vùng Mê Kông trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN” tổ chức tại Viêng Chăn`.
Hội đã tiến hành thu thập, cung cấp thông tin kinh tế, xã hội, môi trường, đặc biệt là các thông tin liên quan đến chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển hợp tác kinh tế của nước ta với Lào và Campuchia cũng như của Lào và Campuchia với nước ta.Trên cơ sở đó, đã triển khai có hiệu quả một số tư vấn chính sách cho Nhà nước, trước hết là Kế hoạch và Đầu tư: Hòan thành báo cáo “Chiến lược đầu tư vào Campuchia đến năm 2015, tầm nhìn 2020”; tham gia “Chiến lược hợp tác kinh tế và đầu tư vào Lào đến năm 2015, tầm nhìn 2020”; Chuyên đề “Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia”; Báo cáo “Tình hình đầu tư vào Lào và Campuchia”...
Đã phối hợp với các doanh nghiệp hội viên tổ chức nhiều đoàn sang khảo sát, giới thiệu đầu tư tại Lào và Campuchia. Đã tổ chức một số đoàn du lịch sang Lào và Campuchia đáp ứng yêu cầu của các hội viên...
4. Tổ chức các hoạt động đối ngoại
Hội đã xây dựng, từng bước mở rộng mối quan hệ hợp tác của Hội với các cơ quan, đơn vị thuộc ngành Kế hoạch và Đầu tư, với các Phân ban hợp tác Việt Nam - Lào, Phân ban hợp tác Việt Nam - Campuchia, với các Hội hữu nghị Việt Nam - Lào, Hội hữu nghị Việt Nam - Campuchia. Đã ký thỏa thuận hợp tác với nhiều Hội, Hiệp hội khác như Hiệp hội công thương Hà Nội, Hiệp hội doanh nghiệp bản lẻ, Hội Doanh nghiệp trẻ và Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ,và một số tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân khác trên cả nước.
Hội đã ký kết các Chương trình hợp tác dài hạn về truyền thông với một số tổ chức như Đài truyền hình VITV, InfoTV, VTV4, Truyền hình Thông tấn xã VN.
Hội đã duy trì quan hệ thường xuyên với các Đại sứ quán Lào, Campuchia, Myanmar tại Việt Nam và các Đại sứ quán Việt Nam tại Lào, Campuchia , Myanmar để thông báo về việc hình thành và phương hướng hoạt động của Hội, tạo cơ sở để giao lưu, hợp tác và trao đổi thông tin. Đã thiết lập quan hệ với một số cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tại ba nước này, đặc biệt với các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc ngành Kế hoạch và Đầu tư của hai nước Lào và Campuchia, Đoàn Thanh niên Nhân dân cách mạng Lào, Tổng hội Việt kiều tại Lào.
II . Khó khăn, hạn chế và bài học kinh nghiệm
Tuy nhiên, so với mục tiêu của Chương trình hoạt động đề ra, số lượng công việc thực hiện thì nhiều nhưng kết quả và chất lượng thu được còn tương đối khiêm tốn. Vai trò và ảnh hưởng của Hội tới cộng đồng doanh nghịêp có hợp tác kinh tế và đầu tư với hai nước Lào và Campuchia chưa tương xứng với mục tiêu đề ra.
Nhiều việc Hội có thể làm được nhưng do khó khăn về tài chính, nhân sự nên chưa thể triển khai. Cơ sở vật chất và nguồn thu tài chính rất hạn hẹp; có những lúc không đủ nguồn thu để duy trì bộ máy hoạt động.
Do bối cảnh khó khăn chung của toàn nền kinh tế, của các doanh nghiệp hội viên và bản thân Trung ương hội nên trong nhiệm kỳ qua quan hệ giữa Hội và các doanh nghiệp nói chung, các hội viên nói riêng không được duy trì thường xuyên. Số hội viên đông nhưng sinh hoạt rời rạc, đơn điệu. Chỉ có một tỷ lệ nhỏ hội viên tham gia đóng hội phí đều đặn, còn lại chỉ khi có việc cần mới đóng.
Nhiều doanh nghiệp hội viên tiến hành các họat động hợp tác với Lào và Campuchia không nhờ đến kênh hỗ trợ của Hội và cũng không thông báo hoạt động cho Hội.
Nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế :
- Môi trường hoạt động kinh tế gặp nhiều khó khăn, các doanh nghiệp phải vất vả để tồn tại. Nguồn thu của Hội quá ít, không đủ triển khai nhiều việc cần thiết và quan trọng.
- Tổ chức và nội dung hoạt động của Hội chưa thực sự giúp hội viên gắn kết với nhau và gắn kết với Hội, đặc biệt là các hội viên cá nhân.
- Các đơn vị trực thuộc Hội mới qua bước dò dẫm để khẳng định mình, đến nay mới bắt đầu phát huy tác dụng.
- Bộ máy lãnh đạo, đặc biệt là BCH, Ban Thường vụ, tuy đông nhưng ít phát huy vai trò và luôn thay đổi cương vị nên hoạt động không đều tay, hầu hết tuổi cao, lực lượng trẻ quá ít.
Từ những việc làm được và chưa làm được trong nhiệm kỳ vừa qua, có thể rút ra một số kinh nghiệm cho nhiệm kỳ tới:
Một là, tiếp tục kiên trì thực hiện đúng tôn chỉ mục đích đề ra là tập hợp, đoàn kết hội viên để (1) tham gia ý kiến, tư vấn và phản biện xã hội đối với các cơ chế chính sách, luật pháp của Đảng và Nhà nước, và (2) hỗ trợ các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia thực hiện các hoạt động kinh tế và đầu tư tại ba nước, nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế và đầu tư giữa ba nước.
Hai là, cần tăng mạnh tính chuyên nghiệp trong họat động Hội, trước hết là tạo ra những sản phẩm đặc trưng dài hạn của Hội từ hoạt động kinh doanh, dịch vụ theo quy định của pháp luật, từ đó chủ động được các nguồn thu ổn định để tự trang trải kinh phí hoạt động. Khuyến khích, tạo điều kiện để các đơn vị, tổ chức trực thuộc và hội viên đẩy mạnh các hoạt động, trên cơ sở đó có thu nhập và đóng góp ổn định cho Trung ương Hội.
Ba là, cần đặc biệt chú trọng công tác hội viên, đặc biệt là tổ chức sinh hoạt hội viên hợp lý tạo điều kiện giao lưu, trao đổi, giúp đỡ, hợp tác với nhau, coi đây là nguồn nội lực quan trọng nhất để phát triển Hội. Cần tạo mọi điều kiện thuận lợi để hội viên phát huy được năng lực, kinh nghiệm của mình cho họat động của Hội. Phải xây dựng, duy trì quan hệ chặt chẽ giữa Trung ương Hội và một số hội viên có tâm huyết với Hội, với hợp tác kinh tế Lào, Campuchia và ASEAN, trước hết là các hội viên doanh nghịêp quy mô vừa đang có nhiều họat động kinh tế, đầu tư, thương mại với các nước bạn.
Bốn là, nâng cao chất lượng hoạt động của Cơ quan Trung ương Hội để luôn luôn có những sáng kiến tạo công ăn việc làm và hỗ trợ, phối hợp được các hội viên, mang lại những cơ hội và lợi ích thiết thực cho các hội viên, chủ động nguồn tài chính cho hoạt động của Hội. Có thể nói đây luôn luôn là nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển của Hội trong nhiệm kỳ tới.
Năm là, tiếp tục tranh thủ sự giúp đỡ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, của các cơ quan Chính phủ và của một số doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với Hội. Hợp tác với các Bộ, cơ quan Chính phủ thông qua việc nâng cao năng lực tư vấn, cung cấp thông tin, phản biện chính sách từ việc động viên huy động các hội viên nguyên là các chuyên gia, các viên chức nhà nước, các nhà khoa học tham gia đóng góp. Đây là con đường ngắn nhất để Hội đóng góp với Đảng và Nhà nước về đổi mới các cơ chế chính sách, luật pháp trong hợp tác với Lào, Campuchia, Cộng đồng ASEAN và các nước khác.
Nhìn lại chặng đường 8 năm vừa qua, một cách khái quát, có thể chia hoạt động của Hội thành 2 giai đoạn: Khoảng 4 năm đầu hoạt động khá sôi nổi, 4. năm sau có phần trầm lắng do gặp phải quá nhiều khó khăn. Có thể nói, tuy mới ra đời và phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức rất gay gắt, nhưng Hội Phát triển hợp tác kinh tế Việt Nam - Lào - Campuchia đã làm được khá nhiều việc theo đúng tôn chỉ mục đích đề ra, thực hiện được hầu hết các nhiệm vụ đề ra trong Chương trình hoạt động nhiệm kỳ I . Có được những kết quả đó là nhờ sự ủng hộ, chỉ đạo, hỗ trợ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hoạt động tích cực của Trung ương Hội, Văn phòng Hội, các Hội thành viên, các đơn vị trực thuộc; Đặc biệt là sự tham gia tích cực của các tổ chức, hội viên (như Ngân hàng Việt Á, Công ty Mai Động, Công ty Hợp tác kinh tế quốc tế Quân khu 4(COECCO), Công ty TNHH Yên Bình, Tập đoàn Viettel, Công ty vật tư công nghiệp quốc phòng GAET, ...)
III . Phương hướng hoạt động của Hội nhiệm kỳ 2017-2021
Thực hiện tôn chỉ mục đích mở rộng của Hội là tập hợp đoàn kết hội viên, hỗ trợ lẫn nhau phát triển và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế với các nước ASEN; tư vấn , thẩm định và phản biện xã hội đối với các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các cơ chế chính sách, xây dựng pháp luật, cải cách hành chính...liên quan đến hợp tác kinh tế của Cộng đồng kinh tế ASEAN
Trọng tâm nhiệm vụ của Hội nhiệm kỳ 201-2021 tập trung vào những nội dung chính sau đây:
1. Các hoạt động chuyên môn
a) Đổi tên Hội, sửa Điều lệ và mở rộng phạm vi hoạt động của Hội,gắn thực hiện chức năng tư vấn, thẩm định, phản biện xã hội đối với các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án, các cơ chế chính sách, xây dựng sửa đổi, bổ sung luật pháp, cải cách hành chính… liên quan đến hợp tác kinh tế với các nước ASEAN. Hội cần xem xét kiện toàn lại bộ máy của Hội và các đơn vị trực thuộc, đổi mới tư duy quản lý, tiếp cận; chủ động và tập hợp huy động tối đa khả năng tham gia của hội viên đặc biệt là các nhà quản lý, nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu và thành viên của Hội để thực hiện chương trình này; có quan hệ mật thiết với các cơ quan nhà nước của Việt Nam và các nước ASEAN để từ đó chủ động nắm bắt và đề xuất các chương trình hợp tác, thực hiện chức năng phản biện xã hội. Hội cũng sẽ chủ động nghiên cứu, đề xuất xin chủ trương xây dựng một số dự án phục vụ nhu cầu của Nhà nước, địa phương hoặc một nhóm, một tổ chức cụ thể, từ đó huy động, tổ chức thực hiện vì lợi ích cộng đồng.
Duy trì và nâng cao chất lượng Diễn đàn MêKông thường niên hướng tới trở thành Diễn đàn kinh tế ASEAN với nhiều chuyên đề, nội dung phong phú. Tổ chức đối thoại giữa các tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất-kinh doanh trong khu vực ASEAN với các tổ chức quản lý nhà nước theo chuyên đề khi có điều kiện.
Các Viện, các Trung tâm thuộc Hội tiếp tục củng cố phát triển lực lượng, uy tín, kinh nghiệm đã có để có đủ điều kiện nhận các chuyên đề, các đề án có quy mô lớn hơn, quan trọng hơn nhiệm kỳ I.
b) Hỗ trợ hội viên :
Tiếp tục triển khai chương trình đào tạo, hỗ trợ nâng cao trình độ quản trị doanh nghiệp, quản lý kinh doanh, xây dựng phát triển hợp tác xã đảm bảo năng lực quản trị, cạnh tranh khi hội nhập. Phổ biến, hướng dẫn các quy định pháp luật của các nước khi tham gia đầu tư vào từng quốc gia trong Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Làm đầu mối liên kết để đào tạo lực lượng lao động phục vụ nhu cầu đầu tư, kinh doanh ở từng nước (chú trọng đào tạo nghề và ngoại ngữ)
Củng cố, đổi mới công tác truyền thông để đẩy mạnh phổ biến phong tục tập quán, văn hóa và các thông tin kinh tế của từng nước, đặc biệt là các quy định pháp luật mới liên quan đến quản lý kinh tế ở các nước, để doanh nghiệp kịp thời tìm hiểu và có giải pháp phù hợp. Thông qua báo, tạp chí, trang thông tin điện tử của Hội và các ấn phẩm chuyên đề để cung cấp thông tin đầy đủ đến hội viên, phấn đấu xây dựng tờ báo điện tử của Hội.
Đẩy nhanh các chương trình xúc tiến đầu tư và thương mại, giúp đỡ hội viên thuận lợi nhất, nhanh nhất trong việc tiếp cận thị trường và đầu tư, tránh tình trạng lộn xộn như hiện nay. Tổ chức chương trình quảng bá nâng cao uy tín thương hiệu, sản phẩm Việt nhằm nhanh chóng xâm nhập được vào thị trường các nước trong AEC. Hoàn thiện và cải tiến sàn xúc tiến đầu tư và thương mại đã có theo hướng thực tiễn và hiện đại.
Đổi mới nội dung hoạt động các văn phòng đại diện để trở thành địa chỉ tin cậy cho các hội viên trong việc hỗ trợ, bảo vệ lợi ích, tháo gỡ khó khăn cho hội viên. Đồng thời chủ động huy động xây dựng trung tâm hỗ trợ hội viên về thương mại và đầu tư ở các nước thành viên AEC, góp phần tạo thuận lợi nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các hội viên là nhà đầu tư. Học tập mô hình quốc tế đang có, phấn đấu xây dựng ở mỗi nước thành viên 01 văn phòng đại diện, đồng thời phấn đấu tạo ra sân chơi an toàn cho các doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài.
Củng cố các Trung tâm, các Viện nghiên cứu đủ sức nhận và thực hiện các đề tài, các khảo nghiệm, các báo cáo chuyên đề theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, các tổ chức nhà nước các cấp nhằm tạo được cơ hội tốt nhất cho các doanh nghiệp hội nhập.
2. Xây dựng Hội và phát triển hội viên
- Xem xét điều chỉnh, bổ sung hoặc xây dựng mới các quy chế quản lý hoạt động Hội, chú trọng các Chi hội, Phân hội.
- Phát triển mạng lưới cơ sở hội và hội viên. Nhanh chóng mở rộng và thu hút các hội nghề nghiệp, các hội có mục tiêu hoạt động kinh tế ở các địa phương trong nước và của người Việt Nam ở nước ngoài tham gia Hội với danh nghĩa Hội thành viên, để cùng nhau đồng hành phát triển kinh tế hướng vào các nước ASEAN.
Đổi mới, vận động thu hút hội viên mới và quản lý Hội theo hướng có hình thức sinh hoạt thiết thực cho hội viên, tối thiểu các hội viên ở các Phân hội gặp nhau mỗi quý một lần để trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ và kiến nghị nguyện vọng của mình kịp thời, và thường xuyên tuyên truyền phát triển hội viên. Phân cấp việc kết nạp, quản lý hội viên.
Sắp xếp, củng cố lại các đơn vị trực thuộc TƯ Hội quản lý. Củng cố và đổi mới Cơ quan Văn phòng Trung ương Hội theo hướng chuyên nghiệp, năng động, thiết thực phục vụ hội viên hiệu quả. Bổ sung, nâng cấp cơ sở vật chất cho cơ quan Trung ương Hội.
Hỗ trợ hình thành một số Hội thành viên ở địa phương và các nơi có điều kiện thuận lợi; vận động, hỗ trợ hình thành các chi hội, phân hội ngành nghề tại những tổ chức, doanh nghiệp và địa phương..., tập trung vào các tổ chức, doanh nghiệp, địa phương đang có nhiều hoạt động hợp tác kinh tế và đầu tư lớn với các nước ASEAN.
Sửa đổi Biểu tượng Hội, nghiên cứu thiết kế, thủ tục trao Thẻ hội viên, Giấy chứng nhận hội viên và các mẫu văn bản khác của Hội. Củng cố, kiện toàn cơ quan ngôn luận của Hội, đặc biệt là xin phép xuất bản tờ MêKông điện tử , Tạp chí điện tử và Trang thông tin điện tử tổng hợp của Hội.
3. Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền
Trên cơ sở kiện toàn lại 3 kênh thông tin tuyên truyền hiện nay của Hội là Thời báo MêKông, Tạp chí Hợp tác và Phát triển, Trang thông tin điện tử của Hội theo hướng: Kiện toàn lại bộ máy phù hợp với nhu cầu và điều kiện mới; Lập và duyệt đề án đổi mới, nâng cấp từng đơn vị nhằm phục vụ có hiệu quả mục tiêu của Điều lệ Hội và phục vụ hội viên; Tạo nguồn thu ổn định để phát triển, góp phần tuyên truyền kịp thời, rộng rãi hoạt động phát triển kinh tế trong khu vực ASEAN và cơ hội phát triển của hội viên.
Củng cố, mở rộng mạng lưới liên kết truyền thông của Hội, trước mắt duy trì quan hệ hợp tác với các kênh truyền hình đã có quan hệ từ lâu như VITV, VNEWS, VTC, INFO TV, VTC thành phố Hồ Chí Minh để tuyên truyền quảng bá kịp thời các hoạt động của Hội.
Quan tâm phát hành các ấn phẩm chuyên đề, đặc biệt là phổ biến pháp luật về kinh tế của các nước AEC.
4. Mở rộng hợp tác quốc tế phục vụ phát triển kinh tế AEC
Hoạt động này bao gồm việc xúc tiến, thúc đẩy quan hệ hợp tác phát triển thương mại và đầu tư với các nhà đầu tư ngoài ASEAN quan tâm đến phát triển đầu tư, thương mại với ASEAN như cung cấp thông tin, tư vấn đầu tư và thương mại, tiếp xúc, giao dịch… tạo kênh hợp tác nhanh và hiệu quả nhất.
Tăng cường năng lực để hợp tác hoặc nhận các chuyên đề từ các tổ chức quốc tế hoặc khu vực nhằm phục vụ xây dựng chính sách hoạch định chiến lược hoặc trực tiếp thực hiện phục vụ phát triển kinh tế ở từng địa bàn hoặc khu vực kinh tế ở các nước ASEAN, hội nhập kinh tế quốc tế, xóa đói giảm nghèo, phát triển thị trường…
Hợp tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực đạt chuẩn và có tác phong công nghiệp nhằm đảm bảo sử dụng nguồn lao động tại chỗ cho đầu tư phát triển. Đây là nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nhóm nước ở mức phát triển trung bình – thấp trong Cộng đồng ASEAN. Để đạt được mục tiêu này cần có sự quan tâm, hợp tác, hỗ trợ của các nước quan tâm tới ASEAN, các tổ chức nội khối ASEAN và đặc biệt là các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động.
Khai thác sự hỗ trợ và hợp tác quốc tế trong việc chuyển giao, phát triển khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ gắn với phát triển môi trường bền vững, công nghệ xanh, trước hết là trong sản xuất, chế biến nông nghiệp. Các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển vùng của Hội cần tranh thủ, vận động sự hỗ trợ của quốc tế để thực hiện nội dung này, vì một ASEAN phát triển.
Với khoảng thời gian chưa dài, trong điều kiện khó khăn nhiều mặt, vừa xây dựng tổ chức vừa triển khai các hoạt động đa dạng và có ý nghĩa , Hội Phát triển Hợp tác Kinh tế Việt Nam - Lào – Campuchia đã từng bước trưởng thành, đã thu được những kết quả đáng khích lệ, đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu phục vụ cho giai đoạn sắp tới của mình. Tự hào, phấn khởi trước thành tựu bước đầu, vững bước vào nhiệm kỳ mới với môi trường hội nhập, địa bàn hoạt động rộng mở hơn trước, tin tưởng rằng Hội sẽ tiếp tục phát triển, hoàn thành nhiệm vụ được giao, thực hiện đúng tôn chỉ mục đích của Hội, có đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp phát triển hợp tác kinh tế với các nước ASEAN và các nước bè bạn khác./.
Ban Thông tin

.
Bài viết cùng chuyên mục