T5, 10 / 2019 8:15 chiều | htpt

Phân hữu cơ vi sinh tầm quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp của Việt Nam

  1. Đặt vấn đề - Vì sao đề cặp đến phân hữu cơ vi sinh đối với sản xuất nông nghiệp của Việt Nam

- VN là nước nông nghiệp, 70% dân số có liên quan sống nhờ vào nông nghiệp

VN có 23 triệu người làm trong nông nghiệp, trong khi đó 11 nước đối tác TPP của VN chỉ có 20,5 triệu người  (Bộ trưởng NN&PTNT Cao Đức Phát 24/01/2016)

- Điểm yếu của ngành nông nghiệp VN là chưa bền vững (Báo cáo tổng kết ngành nông nghiệp năm 2017) cụ thể là:

+ SX nhỏ lẻ: số hộ chiếm 99,89%; số HTX chiếm 0,07%; số doanh nghiệp chiếm 0,04%

+ Nền nông nghiệp lạm dụng hóa học: mỗi năm sử dụng trên 12 triệu tấn phân hóa học, mỗi ngày chi 2,15 triệu USD nhập thuốc trừ sâu (từ Trung Quốc chiếm 54,2%) à đã có xảy ra tình trạng ngộ độc thực phẩm

  • Làm thế nào giảm lượng phân hóa học và thuốc hóa học?

Trong đó có vai trò của phân hữu cơ vi sinh và canh tác tốt GAP  

+ Bức xúc trong vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm và truy nguyên nguồn gốc

+ Được mùa rớt giá, chưa có thương hiệu, chưa có đầu ra vững chắc (giải cứu nông sản)

+ Môi trường bị ô nhiễm, vấn đề phát thải khí nhà kính à làm gì để thích ứng với biến đổi khí hậu?

Để giải quyết vấn đề này hãy bắt đầu từ đâu? à Thay đổi nhận thức của con người

Triết lý canh tác 3 Nuôi: (1) Người nuôi đất  (2) Đất nuôi cây (3) Cây nuôi người

Nguyên tắc canh tác 4 Khỏe: (1) Đất khỏe (2) Cây khỏe (3) Người sản xuất khỏe (4) Người tiêu dùng khỏe.

Canh tác thông minh (1) Thị trường (2) Hiểu rõ đất, nước, khí hậu (3) Ứng dụng đồng bộ các giải pháp khoa học kỹ thuật (4) Liên kết sản xuất và tiêu thụ:  LK ngang (nông dân – nông dân) và liên kết dọc (nông dân và doanh nghiệp)

TẤT CẢ LÀ TỪ ĐẤT

VÀ VAI TRÒ CỦA HỮU CƠ – SINH HỌC – VI SINH RẤT QUAN TRỌNG

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường: Sử dụng phân bón hữu cơ là một xu hướng tất yếu. Tại hội nghị “Phát triển phân bón hữu cơ” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ngày 9/3/2018, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường thẳng thắn chỉ ra, việc sử dụng phân bón hóa học trong thời gian dài đã gây ô nhiễm, thoái hóa đất và thậm chí ảnh hưởng xấu đến chất lượng nông sản. Thúc đẩy sản xuất nông nghiệp sạch theo hướng bền vững, hiệu quả với việc sử dụng phân bón hữu cơ là một xu hướng tất yếu.

Hiện trạng VN đang thiếu phân bón hữu cơ trầm trọng: Lượng phân hữu cơ cần khoảng 40 triệu tấn (bảng 1) – thực tế chỉ cung ứng khoảng 10 triệu tấn (1 triệu tấn do doanh nghiệp sản xuất + 9 triệu tấn do nông dân sản xuất) Còn thiếu khoảng 30 triệu tấn 

Bảng 1. Diện tích gieo trồng một số cây trồng năm 2017 và ước tính lượng phân hữu cơ cần sử dụng

 

TT

Cây trồng

Diện tích

(1.000 ha)

Tỉ lệ

(%)

Ước tính phân hữu cơ

 (Tấn/ha)     (1000 tấn)

1

Lúa

7.716,6

52,69

1

7.716,6

2

Ngô

1.099,7

7,51

1

1.099,7

3

Cao su

971,6

6,63

1

  971,6

4

Rau các loại

937,3

6,40

10

9.373,0

5

Cây ăn quả

923,9

6,31

10

9.239,0

6

Cà phê

664,6

4,54

5

3.323,0

7

Sắn

534,6

3,65

5

2.673,0

8

Điều

297,5

2,03

2

  595,0

9

Mía

280,5

1,92

2

 561,0

10

Lạc

195,3

1,33

1

 195,3

11

Đậu rau

149,5

1,02

10

1.495,0

12

Chè

129,3

0,88

5

  646,5

13

Khoai lang

121,8

0,83

5

  609,0

14

Hồ tiêu

88,9

0,61

10

 889,0

15

Đậu tương

68,5

0,47

5

 342,5

16

Cây trồng khác

466,1

3,18

1

 466,1

 

Tổng cộng

14.645,7

100,00

 

40.195,3

Nguồn: Bộ NN & PTNT, 2018.

  1. Vai trò của phân bón hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp

2.1. Khái niệm và vai trò của chất hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp

Khái niệm về chất hữu cơ: Dấu hiệu cơ bản làm đất khác đá mẹ là đất có chất hữu cơ. Số lượng và tính chất của chúng tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành đất, quyết định nhiều tính chất: lý, hoá, sinh và độ phì nhiêu của đất.

Khái niệm về phân bón hữu cơ: Là loại phân bón được sản xuất từ nguồn nguyên liệu hữu cơ, có các chỉ tiêu chất lượng đạt quy định Quốc Gia.

Phân bón hữu cơ chia thành 4 loại:

Phân hữu cơ truyền thống: Được tạo ra từ nguồn nguyên liệu và cách xử lý truyền thống. Nguyên liệu là chất thải của vật nuôi, phế phẩm trong nông nghiệp, phân xanh (bèo hoa dâu, thân cây họ đậu...) được ủ hoai mục.

Phân hữu cơ sinh học: Có nguồn nguyên liệu hữu cơ được xử lý và lên men theo một quy trình công nghiệp với sự tham gia của một hay nhiều chủng vi sinh vật.

Phân hữu cơ vi sinh: Có nguồn nguyên liệu và quy trình công nghiệp như phân hữu cơ sinh học nhưng có một hoặc nhiều chủng vi sinh vật vẫn còn sống và sẽ hoạt động khi được bón vào đất.

Phân hữu cơ khoáng: Là phân hữu cơ sinh học được trộn thêm phân vô cơ. Thành phần chất hữu cơ trong phân hữu cơ phải đạt 22% trở lên, trong phân hữu cơ khoáng phải đạt 15% trở lên.

Vai trò của chất hữu cơ trong đất:

Có thể nói chất hữu cơ đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với tất cả quá trình xảy ra trong đất và liên quan chặt chẽ tới tính chất lý, hoá và sinh học của đất, thể hiện ở những điểm sau:

 - Ðối với quá trình hình thành và tính chất đất.

+ Với lý tính đất: Chất hữu cơ có tác dụng cải thiện trạng thái kết cấu đất, các keo mùn gắn các hạt đất với nhau tạo thành những hạt kết tốt, bền vững. Phân hữu cơ có tác dụng làm đất thông thoáng tránh sự tạo váng, tránh sự xói mòn. Cải thiện lý, hóa và sinh học đất, làm đất tơi xốp, thoáng khí, ổn định pH, giữ ẩm cho đất, tăng khả năng chống hạn cho cây trồng…. Tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật hoạt động trong đất, giúp bộ rễ và cây trồng phát triển tốt. Góp phần đẩy mạnh quá trình phân giải các hợp chất vô cơ, hữu cơ thành nguồn dinh dưỡng dễ tiêu N, P, K, trung, vi lượng … để cây trồng hấp thụ qua đó giảm thiểu các tổn thất do bay hơi, rửa trôi gây ra.

+ Với hoá tính đất: Chất hữu cơ xúc tiến các phản ứng hoá học, cải thiện điều kiện oxy hoá, gắn liền với sự di động và kết tủa của các nguyên tố vô cơ trong đất. Chất hữu cơ làm tăng khả năng hấp phụ của đất, giữ được các chất dinh dưỡng, đồng thời làm tăng tính đệm của đất.

+ Với đặc tính sinh học đất: Trong quá trình phân giải, phân hữu cơ cung cấp thêm thức ăn cho vi sinh vật, khoáng và hữu cơ nên khi vùi phân hữu cơ vào đất tập đoàn vi sinh vật trong đất phát triển nhanh, giun đất cũng phát triển mạnh.

- Chất hữu cơ và mùn là kho thức ăn cho cây trồng và vi sinh vật.

+ Chất hữu cơ đất (kể cả các chất mùn và ngoài mùn) đều chứa một lượng khá lớn các nguyên tố dinh dưỡng: N, P, K, S, Ca, Mg và các nguyên tố vi lượng, trong đó đặc biệt là N. Những nguyên tố này được giữ một thời gian dài trong các hợp chất hữu cơ, vì vậy chất hữu cơ đất vừa cung cấp thức ăn thường xuyên vừa là kho dự trữ dinh dưỡng lâu dài của cây trồng cũng như vi sinh vật đất.

+ Chất hữu cơ còn là nguồn lớn cung cấp CO2 cho thực vật quang hợp.

+ Chất hữu cơ đất chứa một số chất có hoạt tính sinh học (chất sinh trưởng tự nhiên, men, vitamin...) kích thích sự phát sinh và phát triển của bộ rễ, làm nâng cao tính thẩm thấu của màng tế bào, huy động dinh dưỡng...

- Chất hữu cơ đất có tác dụng duy trì bảo vệ đất.

+ Chất hữu cơ chứa các hợp chất kháng sinh cho thực vật chống lại sự phát sinh sâu bệnh và là môi trường rất tốt làm tăng hoạt tính của hầu hết vi sinh vật đất.

+ Tăng cường sự phân giải của vi sinh vật hoặc xúc tác cho sự phân giải các thuốc bảo vệ thực vật trong đất.

+ Cố định các chất gây ô nhiễm trong đất, làm giảm mức độ dễ tiêu của các chất độc cho thực vật.

2.2. Thực trạng của đất nông nghiệp Việt Nam

Độ phì nhiêu của đất Việt Nam có biểu hiện rõ ràng nhất là hiện tượng giảm sút hàm lượng hữu cơ trong đất cùng với sự mất mát nhanh chóng các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng ở dạng vô cơ. Có hai nhóm yếu tố cùng tác động: yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người. Những năm cuối thập kỷ 50 rất nhiều loại đất có hàm lượng hữu cơ vượt quá 2-3% là phổ biến thì nay đã hiếm thấy, trừ những đất dưới tán rừng. Ngay cả những loại đất thuần thục, vốn là “cái nôi của văn minh lúa nước” cũng chỉ còn trên dưới 1%.

2.3. Lợi ích của việc bón phân hữu cơ và xu hướng phát triển

Thứ nhất, Cải thiện và ổn định kết cấu của đất, làm cho đất tơi xốp, thoáng khí. Từ đó:

- Làm cho nước thấm trong đất thuận lợi, hạn chế đóng váng bề mặt, hạn chế chảy tràn, rửa trôi chất dinh dưỡng, ổn định nhiệt độ đất, tăng cường hoạt động của sinh vật đất

- Giúp đất thoát nước tốt, cải thiện tình trạng ngập úng, dư thừa nước,

- Trên đất sét nặng, việc bón phân hữu cơ làm đất tơi xốp sẽ giúp rễ cây trồng phát triển tốt, tăng cường sự thu hút chất dinh dưỡng cho cây.

Thứ hai, Cung cấp nguồn dinh dưỡng tổng hợp cho đất, làm dinh dưỡng trở thành dạng dễ hấp thu, tăng cường giữ phân cho đất.

- Phân hữu cơ cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cho cây trồng như: đạm, lân, kali, các nguyên tố trung, vi lượng, các kích thích tố sinh trưởng, các vitamin cho cây.

- Gia tăng chất mùn cho đất, tăng khả năng giữ dinh dưỡng cho đất, tăng khả năng điều chỉnh của đất khi bón dư thừa phân hóa học, khắc phục các ảnh hưởng xấu như cháy lá, lốp đổ … Bón phân hữu cơ còn làm tăng khả năng chống chịu của đất khi bị chua hóa đột ngột do ảnh hưởng của bón phân hóa học, làm đất ít chua hơn.

Thứ ba, Tăng cường hoạt động của vi sinh vật trong đất, tăng cường “Sức khỏe’ của đất. Đất sẽ gần như trở thành “đất chết” nếu hệ vi sinh vật đất không hoạt động được.

Phân hữu cơ có ưu điểm là chứa đầy đủ các nguyên tố đa, trung, vi lượng mà không một loại phân khoáng nào có được. Ngoài ra phân hữu cơ cung cấp chất mùn làm kết cấu của đất tốt lên, tơi xốp lên, bộ rễ phát triển mạnh, hạn chế mất nước trong quá trình bốc hơi nước từ mặt đất, chống được hạn, xói mòn.

Vào những năm của thập kỷ 60 thế kỷ 20 do nguồn phân khoáng có hạn nên sử dụng phân chuồng bình quân hơn 6 tấn/ha/vụ. Trong giai đoạn 15 năm (1980-1995) việc sản xuất và sử dụng phân hữu cơ có giảm sút, nhưng từ năm 1995 trở lại đây do yêu cầu thâm canh, các chính sách khuyến khích sản xuất, sử dụng phân hữu cơ được phục hồi. Kết quả điều tra của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa ở một số vùng Đồng bằng, trung du Bắc bộ và Bắc Trung bộ cho thấy trung bình  mỗi vụ cây trồng bón khoảng 8-9 tấn/ha/vụ. Ước tính toàn quốc sản xuất, sử dụng khoảng 65 triệu tấn phân hữu cơ/năm.

Hiện nay trên thị trường có tất cả 9001 loại phân bón có trong danh mục, trong đó có 2408 loại phân hữu cơ chế biến, gồm: phân  hữu cơ khoáng 997 loại, phân hữu cơ + hữu cơ sinh học 737 loại, phân hữu cơ vi sinh 535 loại và phân hữu cơ sinh vật 139 loại.

2.4. Các loại phân bón hữu cơ trên thị trường

Hiện có một số loại phân bón hữu cơ được chế biến truyền thống như phân chuồng, phân gia cầm, phân bò …. hoặc các loại phân bón hữu cơ chế biến như phân hữu cơ sinh học, phân hữu cơ khoáng, phân hữu cơ vi sinh (phân bón cao cấp), Ngoài những ưu điểm thì phân bón hữu cơ truyền thống cũng có nhược điểm như: hàm lượng chất dinh dưỡng thấp nên phải bón lượng lớn, đòi hỏi chi phí lớn để vận chuyển và nếu không chế biến kỹ có thể mang đến một số nấm bệnh cho cây trồng, nhất là khi phân bón hữu cơ được chế biến từ nguyên liệu là chất thải sinh hoạt và công nghiệp. Các vi sinh vật gây hại có trong phân bón gồm: E.coli, Salmonella, Coliform là những loại gây nên các bệnh đường ruột nguy hiểm hoặc ô nhiễm thứ cấp do có chứa các kim loại nặng hoặc vi sinh vật gây hại quá mức quy định. à Khuyến cáo không nên bón phân chuồng tươi (chưa hoai mục) cho ruộng, vườn.

CÁC NGUYÊN LIỆU DÙNG SẢN XUẤT PHÂN HỮU CƠ

Phân chuồng (bò, gà, heo), phân gia súc, phân gia cầm, phân trùn quế

Phân rác, phân xanh, phân bắc

Than bùn

Phụ phế phẩm nông nghiệp: bả bùn mía, rỉ đường, rơm rạ, tro trấu, tro dừa, vỏ cà phê, dây đậu,…phụ phế phẩm thủy sản (cá, tôm)

Rong biển

…..

  1. Vai trò của vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp

Tác dụng hữu ích

+ VSV tham gia vào việc khép kín vòng tuần hoàn các vật chất và giữ cân bằng sinh thái trong tự nhiên

+ Một số chủng, giống VSV tiết ra chất kháng sinh, vitamin, chất kích thích sinh trưởng. Chính vì vậy, nó còn được áp dụng trong các quy trình công nghệ để sản xuất thuốc kháng sinh, vitamin và chất kích thích sinh trưởng v.v…

+ Một số chủng, giống VSV trong tế bào có chứa tinh thể diệt côn trùng. Người ta dùng các chủng, giống VSV này vào trong quy trình công nghệ để sản xuất chế phẩm vi sinh vật dùng trong bảo vệ thực vật để diệt côn trùng có hại.

+ VSV còn phân hủy các chất độc hại, các phế thải nông nghiệp làm sạch môi trường

Có nhiều loại VSV có ích có thể sống và phát triển trong đất

Theo GS. Cao Ngọc Điệp, Đại học Cần Thơ:

Cơ chế trực tiếp

  + Sản xuất chất điều hòa sinh trưởng (Plant Growth Regulators) như auxin (IAA), cytoknin, gibberellins, và acid abscisic.

  + Hấp thu đạm, đây là cơ chế quan trọng nhất của nhóm vi khuẩn cố định đạm; cộng sinh hay không cộng sinh.

  + Tăng cường hấp thụ khoáng, nhất là lân (P) ở cả hai dạng vô cơ và hữu cơ.

Cơ chế gián tiếp

  + Sản xuất kháng sinh, thông qua chất này giúp chống lại vi sinh vật gây hại (plant pathogens) cho cây trồng gồm 2 nhóm KHÔNG bay hơi (non-volatiles) và bay hơi.

  + Sản xuất Siderophores, chúng là hàng rào sắt (sequestering ison) chống lại vi sinh vật gây hại.

  + Tăng cường hệ thống kháng.

Các nhóm VSV tương đối phổ biến

-VSV tăng lượng đạm cho đất có các vi khuẩn cố định đạm : Rhizobium, Azotobacter, Azospicilium… Các vi khuẩn chuyển hóa đạm hữu cơà vô cơ : Nitrobacter, Nitrozomonas, xạ khuẩn Streptomyces

Vi khuẩn phân giải lân : Pseudomonas, Bacillus, Micrococcus.

Phân hủy xenlulô có các vi khuẩn : Cellulomonas, Pseudomonas, Achromobacter, Sacharomyces… các loại nấm mốc : Trichoderma, Aspergillus, Penicilium

Hạn chế sự phát trỉên của VSV gây bệnh có các nấm : Trichoderma, Chaetomium, Gliochadium và một số tuyến trùng.

Ngoài ra còn có VSV phân giải kali, phân giải lưu huỳnh…

  1. Quản lý cây trồng tổng hợp (ICM) là rất cần thiết để phát huy tác dụng của phân hữu cơ vi sinh

Giống + Quy trình canh tác (hệ thống mở) à có phân hữu cơ vi sinh

Diễn biến đất, nước, khí hậu (môi trường)

Diễn biến hệ sinh thái

Diễn biến của thị trường

NÔNG DÂN LÀ CHUYÊN GIA (thăm đồng thường xuyên, xử lý tình huống)

  1. Các phương thức sản xuất đều cần phân hữu cơ vi sinh

5.1- Nông nghiệp hữu cơ à Xem nghị định 109/2018/NĐ-CP ngày 29/8/2018 về Nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ (NNHC) là hệ thống sản xuất xuất duy trì được lâu dài sức khỏe của đất, hệ sinh thái và con người. NNHC dựa trên việc khai thác hợp lý  các quá trình sinh thái, đa dạng sinh học và các chu trình khác phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương, thay vì chỉ hướng đến sử dụng vật liệu tổng hợp từ bên ngoài. NNHC kết hợp truyền thống với đổi mới sáng tạo và khoa học công nghệ để mang lại cuộc sống tốt hơn, cho tất cả những người trong cộng đồng (IFOAM, 2005). Sau này, để đơn giản hơn, các nhà nghiên cứu về NNHC đưa ra định nghĩa ngắn gọn hơn là: NNHC là một hệ thống, trong đó từ chối sử dụng tất cả các loại hợp chất hóa học như: thuốc trừ sâu, bệnh, trừ cỏ, phân bón vô cơ và cây trồng biến đổi gen. Hệ thống này hướng đến sử dụng phân bón hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật sinh học/đấu tranh sinh học (sử dụng thiên địch) và làm cỏ bằng biện pháp cơ học (không hóa chất)

NNHC có 4 nguyên tắc cơ bản sau: i) Nguyên tắc sức khỏe: Sức khỏe của đất, cây trồng, gia súc, con người và cuối cùng là sức khỏe cho cả cộng đồng; ii) Nguyên tắc sinh thái: Hệ tự nhiên mô phỏng và bền vững; iii) Nguyên tắc công bằng: Bình đẳng, tôn trọng và công lý cho mọi sinh vật và iv) Nguyên tắc quan tâm: Vì các thế hệ tương lai.

NNHC cũng có các đặc điểm chính sau: i) Cung cấp chất dinh dưỡng một cách không trực tiếp, thông qua quá trình phân hủy chất hữu cơ bởi vi sinh vật hoặc từ các khoáng chất, phù sa sông suối…; ii) Tự huy động đạm thông qua quá trình cố định bởi các cây bộ đậu hay tái sử dụng chất hữu cơ, phế phụ phẩm; iii) Phòng trừ sâu, bệnh, cỏ dại chủ yếu thông qua các biện pháp đấu tranh sinh học, sử dụng thiên địch, thuốc bảo vệ thực vật sinh học và các giống cây trồng chống chịu và iv) Bảo tồn động vật hoang dã và môi trường sống tự nhiên của sinh vật. Như vậy có thể nói, để có sản phẩm hữu cơ đòi hỏi rất nhiều điều kiện, cả sản xuất và thị trường, vì vậy mà NNHC không có được mức tăng trưởng nhanh như sản xuất nông nghiệp thâm canh.

(Nguyễn Văn Bộ, Sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam: cơ hội, thách thức và những vấn đề cần quan tâm– Kỷ yếu Hội thảo “Diễn đàn phát triển Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam” NXB Nông nghiệp, 2017 trang 29)

- Phân bón sử dụng trong canh tác hữu cơ

Theo các tiêu chuẩn của IFOAM về nguyên liệu đầu vào trong canh tác thì việc sử dụng các loại phân bón tương đối hạn chế căn cứ trên thành phần nguyên liệu và các phương pháp chế biến. Các sản phẩm có các loại hóa chất trong thành phần không được chấp nhận, các loại nguyên liệu như than bùn và các loại phân chuồng công nghiệp cũng phải được kiểm tra cẩn thận để tránh bị ô nhiễm kim loại nặng và nhất là phải được xử lý cho hoai mục trước khi sử dụng làm phân bón. (Nguyễn Văn Linh, Phân bón trong canh tác nông nghiệp hữu cơ – Kỷ yếu Hội thảo “Diễn đàn phát triển Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam” NXB Nông nghiệp, 2017 trang 79)

5.2. Nông nghiệp công nghệ cao +NNCNC là nền nông nghiệp được áp dụng những công nghệ mới vào sản xuất bao gồm công nghiệp hóa nông nghiệp (cơ giới hóa các khâu của quá trình sản xuất), tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học và các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất và chất lượng cao, đạt hiệu quả cao trên một đơn vị diện tích và phát triển bền vững trên cơ sở hữu cơ” Vụ KH-CN Bộ NN&PTNT

 

5.3. Nông nghiệp thông minh 4.0

+ Nông nghiệp thông minh có thể hiểu là nền nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (cơ giới hóa, tự động hóa…), công nghệ sản xuất, bảo quản sản phẩm an toàn (hữu cơ, theo GAP…), công nghệ quản lý, nhận diện sản phẩm theo chuỗi giá trị… gắn với hệ thống trí tuệ nhân tạo (công nghệ thông tin) Wikipedia

 

5.4. Nông nghiệp sạch: là một hệ thống quản lý sản xuất nông nghiệp tránh sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu tổng hợp, giảm tối đa ô nhiễm không khí, đất và nước, tối ưu về sức khỏe và hiệu quả của các cộng đồng sống phụ thuộc lẫn nhau giữa cây trồng, vật nuôi và con người (định nghĩa của Codex Alimentarius – cơ quan Liên hợp quốc giám sát các tiêu chuẩn về lương thực trên toàn thế giới)

 

5.5. Sản xuất theo tiêu chuẩn GAP (thực hành nông nghiệp tốt)

4 Không (hoặc dưới ngưỡng cho phép):

Dư lượng nitrat (dưới ngưỡng)

Dư lượng thuốc trừ sâu (dưới ngưỡng)

Dư lượng kim loại nặng (dưới ngưỡng)

Không nhiễm khuẩn

 

5.6. Xây dựng thương hiệu – liên kết sản xuất & tiêu thụ

Giới thiệu  Sàn giao dịch nông sản Farm360

 

 Trịnh Tiến Hưng

 

.
Bài viết cùng chuyên mục