T3, 02 / 2018 5:43 chiều | htpt

NHẮC VỢ BẰNG THƠ

   Cô vợ làm ở Công ty Môi trường Đô thị, chồng là nhà thơ. Trong nhà có nuôi một con chó dữ. Vì không thể thức khuya đợi vợ đi làm về, nên trước khi đi ngủ, nhà thơ bèn viết mấy chữ “Thả chó ra” để nhắc vợ mình khi về nhà thì dẫn con chó ra trước sân nhà, sợ đêm khuya chó phóng uế trong nhà. Ngày qua ngày, mỗi lần về nhà, vợ cứ thấy mãi dòng chữ “Thả chó ra” bèn chế giễu chồng:

  • Anh là nhà thơ, sao không dùng cách gì để nhắc em nhưng đừng khô khan, thiếu tâm hồn như ba chữ “Thả chó ra” này được không?

   Anh chồng im lặng, tủm tỉm cười. Một hôm, vợ đi làm về thấy có bài thơ sau:

Thêm một mùa xuân đến

Hoa mai vàng thướt tha

o ảnh qua năm tháng

Chập chờn trong tim ta

Hiu quạnh cùng thương nhớ

Óng ả bướm đùa hoa

Rã rời thân cô tịch

Ai hiểu được tình thơ

   Cô vợ đọc đi đọc lại mấy lần, thấy chồng thức dậy, liền hỏi:

  • Thơ của ai mà buồn thế anh? Hình như là tâm trạng của một chàng trai yêu người con gái mà không được cô ta đáp lại, phải thế không anh?
  • Thơ của anh sáng tác đấy, em ạ!
  • Trời, thì ra anh còn tơ tưởng đến cô nào ngày xưa chứ gì?
  • Tơ tưởng gì đâu… Bài thơ ấy là lời nhắc nhủ em mỗi khi về nhà đấy mà…
  • Anh nói gì em không hiểu!?
  • Em đọc lại bài thơ thật kỹ đi! Thế nào, em đã phát hiện được gì chưa?

   Cô vợ đọc lại bài thơ lần nữa và phát hiện ra rằng: Những chữ đầu trong bài thơ ghép lại từ trên xuống thì đúng là THẢ CHÓ RA!

 

BÀI THƠ MẤT CHÓ

   Con chó đực nhà chánh Tổng ở vùng Kinh Bắc, gần Tết bỏ đi mất. Lão Chánh Tổng rất tiếc vì mất chó, tỏ ra mình giỏi văn thơ, lão liền viết cáo thị bằng thơ dán ở điếm canh đầu làng, hy vọng tìm lại được con chó quý. Thơ rằng:

Nhà tao vừa sổng một con cầy.

Ai bắt, khôn hồn phải thả ngay.

Khai báo đàng hoàng thì trọng thưởng.

Cố tình giấu giếm, giải quan Tây.

Cha nên khuyên trẻ mau thành khẩn.

Vợ phải bảo chồng chớ đắm say.

Xẻ thịt hoặc nuôi đừng có trách.

Ông mà phát hiện, bỏ cha mày.

   Mọi người trong vùng đi qua nhìn bảng cáo thì thấy lời lẽ trịch thượng, ngang tàng, cậy quyền, trong lòng tức giận lắm. Hôm sau, bên cạnh bài thơ cáo thị của Chánh Tổng, có bài thơ họa của tác giả khuyết danh. Bài thơ như sau:

Xả xui, ông thịt một con cầy.

Bếp núc sẵn rồi, nấu chén ngay.

Sực nức mẻ, riềng nồi dựa mận

Thơm lưng dồi chó, món “cờ tây”.

Cha con khoái khẩu ngồi ăn hết

Chồng vợ vui mồm, quyết uống say

Mặc kệ kẻ nào đang lớn tiếng.

Chó còn chẳng sợ, sợ chi mày!

   Lão Chánh Tổng nghe tuần phu báo, liền chạy ra xem, đọc đến đâu tái mặt đến đó; nhất là dưới bảng cáo thị còn có cái đầu con chó quý của hắn đang nhe răng cười!

 

DÙNG CHÓ ĐÁNH GIẶC

   Nguyễn Xí quê Nghệ An. Lúc Lê Lợi mưu việc lớn, sai Nguyễn Xí nuôi một đàn chó săn hơn một trăm con để biến thành chó đánh giặc. Công việc vất vả, đến giờ ăn đàn chó tranh giành, cắn xé nhau. Nguyễn Xí kiên nhẫn và dành tình thương để bắt chúng vào khuôn phép. Khi chia cơm cho chó ăn, ông đều dùng chuông làm hiệu lệnh. Bầy chó theo sự điều khiển của chủ tiến thoái răm rắp. Nguyễn Xí chọn ra mấy chục con chó đầu đàn; dùng chiêng, trống làm hiệu lệnh tập họp. Sau đó, cả đàn chó cứ theo những con đầu đàn, nghe từng tiếng trống mà đứng, ngồi, chạy nhảy rồi nghe tiếng chiêng mà tiến, lui, ẩn nấp, chạy đi, chạy về. Khi sắp dấy quân khởi nghĩa, Lê Lợi đã phong Nguyễn Xí làm đại tướng quân, nắm quyền cai quản đội quân Thiết Đột thứ nhất. Sau này, khi đánh nhau với quân Minh, đội khuyển binh của tướng Nguyễn Xí đã lập nhiều chiến công, khiến quân Minh khiếp đảm. Với tài năng và đàn chó độc đáo của mình đánh đâu thắng đấy, Nguyễn Xí trở thành danh tướng của nghĩa quân Lam Sơn, khai quốc công thần của triều Hậu Lê.

 

TẢN ĐÀ NÓI VỀ CHÓ

   Nhà thơ Tản Đà rất thích bài thơ Gởi Trương Tửu của Nguyễn Mỹ, tuy vậy khi gặp nhau, ông vẫn phê bình:

  • Bài thơ của ông hay thật đấy! Nhưng sao ông lại bảo: “Nhà văn An Nam khổ như chó”. Ông so sánh nhà văn chúng ta với chó mà ông không thẹn ư?

   Nhà thơ Nguyễn Mỹ thản nhiên, lễ phép trả lời:

  • Thưa cụ, nếu cháu so sánh nhà văn với chó thì chó nó thẹn, chứ sao nhà văn lại thẹn ạ!

   Câu trả lời hóm hĩnh của Nguyễn Mỹ khiến Tản Đà bật cười và rưng rưng nước mắt. Một lần khác, nhân nói đến một truyện ngắn của một nhà thơ Chile do Nguyễn Đức Bình (anh ruột Hoài Thanh) dịch, mới đăng báo. Truyện kể về một nhà thơ không được đời biết tới và “chết như một con chó”. Tản Đà tỏ ý bất bình, nói:

  • Thật vô lý! Tại sao lại ví nhà thơ với chó được!

   Nhà văn Ngô Tất Tố có mặt ngồi đó, chép miệng:

  • Người ta có ví nhà thơ với chó thì oan cho chó chứ oan gì cho nhà thơ đâu.

   Thế rồi hai người tranh cãi nhau một hồi. Qua hai mẩu chuyện trên, ta có thể thấy rằng: Các nhà văn, nhà thơ từ xưa đến nay có cuộc sống đạm bạc dường như là lẽ tự nhiên!

 

TRÊN DƯỚI ĐỀU CHÓ

   Thời kỳ Cao Bá Quát (1808 – 1855) ở kinh đô Huế, có hai ông quan thường khích bác, đấu đá nhau. Một lần, hai ông này to tiếng, cãi cọ và ẩu đả nhau, đem nhau đi thưa kiện, Cao Bá Quát đã chứng kiến từ đầu nên được vua Tự Đức bắt ông viết tờ khai cho vua rõ. Ông đã khai rằng:

Bất tri lý hà. Lưỡng tương đấu khẩu.

Bỉ viết cẩu. Thứ diệc viết cẩu.

Thượng hạ giai cẩu. Dĩ tướng đấu cẩu

Nguy tai! Nguy tai! Thần cụ thần tẩu

   Nghĩa là:

Chẳng biết lý sao. Hai bên đấu khẩu.

Bên này bảo “chó”. Bên kia cũng “chó”.

Trên dưới đều chó. Rồi họ đánh nhau.

Nguy thay! Nguy thay! Thần sợ thần chạy.

   Thế là, với tờ khai của mình, Cao Bá Quát đã châm biếm cả vua quan: “Trên dưới đều chó”!

 

MƯỢN CHÓ MẮNG GIẶC

   Nguyễn Đăng Cảo, người Bắc Ninh giỏi chữ nghĩa nhưng tính ngang tàng. Đáng lẽ đậu Trạng nguyên nhưng quan trường ghét ông nên đánh rớt, chỉ cho đậu Thám hoa. Có lần, vua Lê Thần Tông giao ông tiếp sứ giả nhà Thanh. Biết Nguyễn Đăng Cảo là người đã làm tờ biểu đòi nhà Thanh phải bãi bỏ chiếu bắt dân ta phải gọt đầu (đối với nam); dóc tóc, tết đuôi sam (đối với nữ). Sứ giả này bèn ra cho ông một vế đối như sau:

Tiểu oa đoản cảnh, mạn cư tỉnh để khuy thiên.

(Ếch con ngắn cổ cũng dám ngồi đấy giếng dòm lên trời).

   Vế đối đầy vẻ khinh miệt, mỉa mai, coi nước ta kiến thức hẹp hòi. Cần phải mắng cho “thiên triều” mở mắt ra. Nghĩ vậy, Nguyễn Đăng Cảo liền đối:

Lão khuyển lục mao, do hướng đình tiền phệ nguyệt.

(Con chó già rụng long, còn ngóng ra sân sủa lên bóng trăng).

   Câu đối đầy vẻ ngang tàng, khinh miệt vua quan nhà Thanh không ra gì. Sứ giả nhà Thanh bẽ mặt, hôm sau chuồn về nước.

 

MẸ CHA QUÂN CHÓ

   Viên giáo thụ Từ Sơn (Bắc Ninh) là kẻ ăn bẩn. Ngoài việc ăn lễ, ông ta còn tìm cách bắt chẹn học sinh để lấy tiền. Có lần, ông ta sai một em học sinh đi đun nước pha trà. Chẳng may cái ấm đất rạn sẵn nên vỡ làm đôi. Thế là viên giáo thụ bắt đền em học sinh lấy một hào bạc. Thấy việc làm đê tiện của ông ta, nhiều người tức bực nói vang ra. Việc ấy đến tai viên học quan ở tỉnh. Ông này buộc miệng chửi: “Mẹ cha quân chó”.

   Ngô Tất Tố đã về trường này để xác minh, nắm rõ sự việc. Mấy hôm sau, Ngô Tất Tố cho báo đăng bài “Mẹ cha quân chó”, kèm bài thơ chửi chó như sau:

Ghẻ mướp mà còn có mỡ đuôi.

Mẹ cha quân chó thế thì thôi.

Cắn càn chỉ chực tâng công chủ.

Ăn bẩn không e tiếng để đời.

Túng thế, giậu gai còn cố rứt.

Được mồi gầm chạn cũng liều chui.

Bấy lâu được dịp cơn hồng thủy.

Bàn độc đôi phen bảnh chọe ngồi.

   Sự tài tình của Ngô Tất Tố ở chỗ, trong một bài Thất ngôn bát cú mà vận dụng tới bốn thành ngữ về loài ăn bẩn này: Chó ghẻ có mỡ đằng đuôi, Chó cùng rứt giậu, Chó chui gầm chạn, Chó nhảy bàn độc. Viên giáo thụ ở Từ Sơn không ngờ gặp phải người tài hoa trong làng văn, làng báo nên bị một vố chửi nhớ đời.

 

BÀI THƠ CHÓ

   Có một quan lớn chẳng học hành nhiều, nhưng nhờ chạy chọt nên được chức quan. Ông ta rất ưa ăn thịt chó. Trong nhà quan lớn nuôi nhiều chó, tiếng chó sủa, cắn nhau hàng ngày làm người dân ở xung quanh rất khó chịu nhưng không ai dám góp ý. Đầu xuân, quan lớn mở cuộc thi thơ cho các nho sỹ trong vùng, lấy đề tài về chó. Suốt mấy ngày liền chẳng ai đến dự thi. Đến ngày cuối cùng thì có một bài thơ dán ngay lên cổng nhà quan:

Bốn bên hàng chó tiếng lao xao

Trở dậy mà xem lũ chó nào?

Vại mẻ trò bày trong cũi mốc

Mắm tôm thú cất giữa chòi cao

Đầu chày ăng ẳng riềng ỏm tỏi

Đít thớt oang oang húng tào lao

Hoàng, bạch, vện khoang đâu cũng chó

Lại còn đắc ý chạy nhông nhao…

   Quan lớn đọc lui đọc tới bài thơ thì mặt đỏ bừng lên, nghiến răng tức giận vì ông ta có tên cúng cơm là Hoàng Văn Bạch!

 

Bút danh: NGA NGUYỄN

NGUYỄN THỊ DIỆU NGA

Số 80 đường Xuân 68 - Thành phố Huế

Mobile: 094.570.9968

.
Bài viết cùng chuyên mục