T6, 12 / 2019 1:25 chiều | htpt

Đánh giá, đề xuất tổ chức SX&KD vải thiều, vải sớm vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang theo chu trình và vòng đời cụm tương hỗ

    PGS.TS: Hoàng Sỹ Động

Trung tâm Đào tạo và Hỗ trợ hợp tác kinh tế quốc tế

                                                                       PGT.TS: Từ Quang Phương

Trường đại học kinh tế quốc dân

                                                                        TS: Nguyễn Thị Ái Liên

                                            Trường đại học kinh tế quốc dân

                                                                        Ths: Nguyễn Thị Bích Phương 

Trung tâm Đào tạo và Hỗ trợ hợp tác kinh tế quốc tế

Đề dẫn: Lục Ngạn, Bắc Giang có vị trí địa lý thuận lợi thuộc vùng Trung du và Miền núi phía Bắc, có quỹ đất lớn, chất đất tốt và khí hậu thuận lợi; lợi thế với lực lượng lao động nhiều, có kinh nghiệm trồng vải thiều. Sản xuất, kinh doanh vải thiều được chính quyền tỉnh Bắc Giang, huyện Lục Ngạn ủng hộ bằng chính sách tín dụng, khuyến nông, áp dụng KH&CN v.v vì vậy ở đây đã hình thành vùng cây ăn quả lớn nhất miền Bắc. Tổ chức SX&KD vải thiều đang hình hành, phát triển trên cơ sở chu trình CGT, MSX và vòng đời cụm tương hỗ, nên thu được khá nhiều thành tựu. Tuy nhiên, thành phần chính là DN, HTX, hội và hội tham gia SX&KD vải thiều ở đây đang gặp nhiều thách thức do chưa đạt mã vùng thị trường cao cấp, chứng chỉ thị trường trung bình và giá bán thất thường, v.v khiến người sản xuất, kinh doanh thua lỗ. Vì vậy, tổ chức sản xuất và tiêu thụ vải thiều, vải sớm ở Bắc Giang hiện suy giảm khá mạnh về diện tích. Chính vì vậy, đề tài tiến hành nghiên cứu tìm ra nguyên nhân, giải pháp khắc phục hạn chế để nâng cao cạnh tranh, giá trị gia tăng và phát triển bền vững trong SX&KD 2 loại vải trên cơ sở chu trình CGT, MSX và vòng đời cụm tương hỗ trong bối cảnh nhiều thách thức, cơ hội  đan xen là cần thiết.

Từ khóa: Nội hàm cụm tương hỗ, chu trình theo chuỗi giá trị, mạng sản xuất và vòng đời cụm tương hỗ

1. Đánh giá chung tổ chức SX&KD vải thiều, vải sớm vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang trên cơ sở chu trình và vòng đời cụm tương hỗ

1.1. Nhận thức tổ chức SX&KD vải thiều, vải sớm vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang trên cơ sở chu trình CGT, MSX

Tổ chức sản xuất và tiêu thụ nông sản theo chu trình và cụm tương hỗ là vấn đề hoàn toàn mới tại Việt Nam, tuy nhiên đã trở thành phổ biến trên thế giới. Đây là cách làm hiện đại dựa trên cơ sở khoa học vững chắc về chuỗi giá trị (CGT), mạng sản xuất (MSX) và đổi mới tổ chức lãnh thổ khai thác, phát huy tiềm năng, lợi thế, thu hút, nâng cao trình độ thành phần chủ yếu (DN, HTX, hộ và hội). 

Bằng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, với sự giúp đỡ của công cụ hiện đại (GIS, STAA, v.v), chúng tôi đánh giá tổ chức SX&TT vải thiều, vải sớm vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang, trình bày cụ thể phía dưới.  Hiện nay, việc tổ chức SX&KD nông sản ở Việt Nam, cũng như đối với vải thiều, vải sớm tại vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang bị chia cắt, manh mún thành từng khâu, từng đoạn mà không theo chu trình CGT, MSX, nhấn mạnh đến thành phần quyết định tham gia do không theo nguyên tắc hoạt động cụm tương hỗ vì thiếu kết nối, hợp tác, cạnh tranh thấp, mà chỉ là liên kết.

pastedGraphic.png

Thiếu liên hệ giữa CON NGƯỜI VÀ SẢN PHẨM

pastedGraphic_1.png

Sơ đồ 1: Mô phỏng diễn giải ở Việt Nam về CGT, MSX

Sơ đồ 1 phía trên cho thấy nhận thức của chúng ta sai lầm ở chỗ sản xuất và tiêu thụ nông sản là liên kết từ 2 nhà,  3 nhà, đến 4 nhà và mới đây là 5 nhà và hiện nay nhấn mạnh việc SX&KD nông sản trong đó có vải thiều phải là chuỗi giá trị ngành hàng hay chuỗi sản xuất trong khi thực chất mối liên kết quan trọng nhất là SẢN PHẦM và CON NGƯỜI lại chưa được rõ ràng. 

Trong giáo trình và nhiều nhà khoa học, đặc biệt là Michael Porter đều trình bày SX&KD sản phẩm tiềm năng, lợi thế phải đặt trong chu trình chuỗi giá trị (thượng, trung, hạ nguồn), mạng sản xuất (thành phần tham gia từng công việc) và phản ánh một cách lôgic, với các hoạt động theo vòng đời cluster. Trên cơ sở kết quả điều tra và đánh giá tổ chức SX&KD 2 loại vải vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang theo chu trình CGT, MSX, chúng tôi trình bày trong Sơ đồ 2. 

pastedGraphic_2.png

Sơ đồ 2: Chu trình tổ chức SX&TT vải thiều ở Bắc Giang theo CGT, MSX

Mặt khác cũng từ kết quả điều tra, đánh giá và phân tích thấy rằng, có 5 thành phần tham gia tổ chức SX&KD vải thiều, vải sớm ở đây, trong đó thành phần quan trọng nhất là doanh nghiệp, hợp tác xã kiểu mới, hộ gia đình, hội và cùng với 2 thành phần khác là cơ quan Nhà nước, tổ chức nghiên cứu (xem sơ đồ 3):

 

                          

                                                                          

Sơ đồ 3: Tam giác quan hệ 3 thành phần và hội tham gia SX&TT

         vải sớm, vải thiều ở Bắc Giang theo chu trình CGT, MSX

1.2. Đánh giá tổ chức SX&KD 2 loại vải vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang trên cơ sở vòng đời cụm tương hỗ

Sự hình thành, phát triển đối với SX&KD 2 loại vải vùng Lục Ngạn, Bắc Giang trên cơ sở vòng đời cụm tương hỗ được chúng tôi đưa ra theo 3 giai đoạn: giai đoạn 1 (điểm)  giai đoạn 2 (vùng)  giai đoạn 3 (vùng địa lý tập trung) trên cơ sở thu thập và phân tích số liệu khoảng thời gian trên 30 năm, từ 1986 đến 2018. 

Bước 1 đến năm 1986, tổ chức SX&KD vải thiều ở tỉnh Hà Bắc hình thành ĐIỂM vải thiều tại 3 huyện (Lục Ngạn, Lục Nam và Yên Thế), với diện tích 192 ha và đặc điểm năng suất thấp (10,6 tạ/ha), chất lượng thấp và chủ yếu tự sản, tự tiêu (bán tại chợ quê để mua gạo, quần áo), chưa thành hàng hóa, tạo ra thu nhập chính và thành phần chính tham gia là hộ gia đình tự phát, trình độ còn nhiều bất cập;

Bước 2 từ 1986 đến 1996, việc tổ chức SX&KD vải thiều ở Hà Bắc hình thành, phát triển theo hình thức cluster ở cuối giai đoạn chuẩn bị. Quy mô thành VÙNG vải thiều tại 6 huyện chủ yếu, gồm 3 huyện trên và các huyện (Sơn Động, Tân Yên, Lục Nam, Yên Thế), với diện tích 6.019 ha. Giai đoạn chuẩn bị, vải thiều năng suất vẫn còn thấp, đạt 12,7 tạ/ha, chất lượng còn hạn chế và vải thiều tiêu thụ trên thị trường trong nước, thành phần chính vẫn là hộ và bắt đầu có DN nhỏ, trình độ còn hạn chế;

Bước 3 từ 1997 đến 2018, tổ chức SX&KD vải sớm, vải thiều ở Bắc Giang bước lên giai đoạn hình thành, với quy mô rất lớn (40.629 ha vào năm 2005) và đến năm 2018 giảm xuống còn 28.488 ha, trở thành VÙNG địa lý tập trung, phân bố chủ yếu trong các huyện trên và một vài huyện khác. Trong giai đoạn này, diện tích tăng mạnh nhất, rồi cũng giảm xuống nhanh, đặc biệt năng suất tăng gấp 3 lần (40 tạ/ha), chất lượng sản phẩm cũng được cải thiện nhiều. Thành phần chủ yếu tham gia đầy đủ, gồm: doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình và hội, trình độ SXKD được cải thiện. 

Trên thực tiễn, việc tổ chức SX&KD vải của Trung Quốc đã bước sang giai đoạn mở rộng và trình độ cao hơn, dẫn đến khối lượng vải xuất khẩu ra thị trường cao cấp và giá bán tại đó cao hơn nhiều 2 loại vải Việt Nam trong nhiều năm. Cụ thể năm 2018 giá bán vải Trung Quốc tại Tokyo quy ra 500.000 đ/kg trong khi giá vải thiều, vải sớm Việt Nam giá bán tại đây chỉ 220.000đ/kg (Nguồn: BC đánh giá tổ chức SX&TT vải thiều ở Bắc Giang theo hình thức cụm tương hỗ).

Cụm tương hỗ vải sớm, vải thiều vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang được nhóm tác giả trình bày trên cơ sở 4 giai đoạn hình thành, phát triển cụm tương hỗ của chuyên gia Ngân hàng thế giới (WB). Theo đó, việc tổ chức SX&KD vải sớm, vải thiều ở đây trên cơ sở nội hàm cụm tương hỗ đã bước qua giai đoạn chuẩn bị, đang ở giai đoạn hình thành do quy mô vẫn suy giảm, tuy giá trị sản xuất, năng lực cạnh tranh sản phẩm có nâng cao, nhưng chủ yếu xuất quả tươi mới vào thị trường Trung Quốc trong khi số lượng, giá trị kinh tế tại thị trường cao cấp còn rất khiêm tốn, nên giá trị xuất khẩu, giá trị gia tăng thấp và tiềm ẩn nhiều rủi ro. 

 

 

     

  

 

Sơ đồ 4: Tổ chức SX&KD 2 loại vải vùng địa lý tập trung Lục Ngạn 

                 Bắc Giang phản anh trình độ theo vòng đời phát triển cụm tương hỗ

1.3. Đánh giá định lượng tổ chức SX&KD vải thiều, vải sớm vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang theo chu trình và vòng đời cụm tương hỗ

Nghiên cứu định lượng là thách thức lớn cho những ai nghiên cứu kinh tế nông nghiệp, tuy nhiên nếu đưa ra kết quả thành công sẽ chứng tỏ được chất lượng và năng lực người nghiên cứu. Mô hình hàm tuyến tính nhiều lớp phản ánh mối quan hệ tổ chức SX&KD vải sớm, vải thiều vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang trên cơ sở chu trình CGT, MSX và vòng đời cluster được trình bày dưới đây:

          Y (KQ) = a + bx1 (KT) + cx2 (XH) + dx3 (TN) + ex4 (MT)

Trong đó: Y là hàm số phản ánh kết quả

X1 là biến kinh tế; X3 là biến tài nguyên

X2 là biến xã hội;  X4 là biến môi trường.

Bảng 4 phía dưới trình bày kết quả và các trị số thống kê phản ánh trình độ trong tổ chức SX&KD vải sớm, vải thiều vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang theo chu trình CGT, MSX và vòng đời cụm tương hỗ là chấp nhận được vì sai tiêu chuẩn thấp, hệ số tương quan khá và độ chính xác chấp nhận được.

Bảng 4: Kết quả tính toán thống kê theo từng Biến độc lập

pastedGraphic_3.png

Đặc biệt từ phương trình kết quả giữa Hàm (Yi) và 4 Biến độc lập (Xi) nêu trên, nhóm nghiên cứu tính ngược lại trên cơ sở các giá trị 4 Biến độc lập cho thấy kết quả Hàm Yi đều nằm trong khoảng 2,0 đến 3,2 và tập trung ở vùng từ 2,5 đến 2,7. Điều này là phù hợp vì trình độ tổ chức SX&TT vải sớm, vải thiều vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang theo chu trình và vòng đời đang ở mức độ trung bình, tương ứng với giai đoạn 2 hình thành, phát triển của 4 giai đoạn cụm tương hỗ. 

2. Đánh giá sâu tổ chức SX&KD vải thiều vùng địa lý tập trungLục Ngạn, Bắc Giang trên cơ sở chu trình và nâng vòng đời cụm tương hỗ

2.1. Đánh giá tổ chức sản xuất và tiêu thụ vải thiều vùng địa lý tập trungLục Ngạn, Bắc Giang theo mô hình kim cương

Mô hình kim cương được rất nhiều nhà khoa học áp dụng trong nghiên cứu cluster vì cho thấy từng hoạt động từ đầu vào, tới đầu ra và nhất là làm rõ vị trí, vai trò của từng tác nhân tham gia và mối liên hệ lôgic trong tổ chức SX&KD  vải thiều, vải sớm trong chuỗi giá trị, mạng sản xuất. 

Từ Sơ đồ 1, Mô hình tổ chức SX&KD 2 loại vải ở đây thấy rõ những hạn chế cốt lõi trong cạnh tranh, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững trong bối cảnh nhiều thách thức, cơ hội đan xen, cụ thể:

1/ Tổng quát nhất tổ chức SX&KD vải thiều, vải sớm vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang chưa tuẩn thủ hình thức cụm tương hỗ và chưa đúng chu trình chuỗi giá trị, mạng sản xuất dẫn đến nhiều thách thức và khó khăn.

2/ Hạn chế cụ thể từ cung cấp thuộc trừ sâu, phân bón, đến điểm thu mua, cơ sở chế biến, bảo quản và thành phần tham gia trong đó nhất là ít DN vừa, HTX, dịch vụ KH&CN và KHQT, với các ngành liên quan còn hạn chế (Sơ đồ 1).

3/ Phần sau nhóm nghiên cứu sẽ xác định hạn chế cốt lõi dẫn đến khả năng cạnh tranh kinh tế, giá trị gia tăng và phát triển kém bền vững trong tổ chức SX&KD 2 loại vải ở đây thua xa Trung Quốc trong chuỗi giá trị, mạng sản xuất. Tuy nhiên để khắc phục 2 hạn chế cơ bản này cần giải quyết đồng bộ cả 2 khâu. 

 

Sơ đồ 1: Mô hình Kim cương đối với cluster vải thiều ở Bắc Giang

2.2. Đánh giá diện tích, sản lượng và giá trị sản xuất, giá trị xuất khẩu vải thiều vùng địa lý tập trungLục Ngạn, Bắc Giang

- Về diện tích, sản lượng: Biểu đồ 1 chỉ ra rằng diện tích và sản lượng vải sớm, vải thiều vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang tăng lên mạnh đến năm 2005, sau đó giảm xuống và diện tích, sản lượng 2 loại vải của tỉnh Bắc Giang  chiểm tỷ trọng lớn (khoảng 70%), so với cùng chỉ tiêu này trên cả nước.

 

Biểu đồ 1: So sánh diện tích, sản lượng vải Bắc Giang

với cả nước giai đoạn 3 từ 2005 đến 2017

Nguồn: Thống kê ngành Nông nghiệp, Cục thống kê Bắc Giang và Đề tài

 - Về giá trị sản xuất, giá trị xuất khẩu: Biểu đồ 2 được xây dựng trên cơ sở số liệu của Cục thông kê, tỉnh Bắc Giang và điều tra của chúng tôi. Biểu đồ cho thấy thấy giá trị sản xuất và giá trị xuất khẩu 2 loại vải Bắc Giang tăng lên, vài năm gần đây giá trị xuất khẩu tăng cao hơn và tỷ trọng xấp xỉ là 55%/45% (2018 và 2019).

Biểu đồ 2: Diễn biến GTSX, GTXK trong SX&TT vải sớm

vải thiều ở Bắc Giang theo hình thức cụm tương hỗ

- Về năng suất và chất lượng vải sớm, vải thiều: Năm 1998, năng suất vải thiều Việt Nam thấp, chỉ bằng 1/3 của Trung Quốc (Nguồn: Báo cáo sản xuất và quản lý vải, FAO, 2002). Tuy nhiên, từ năm 2008 đến 2018 năng suất vải thiều Việt Nam được nâng lên và hiện nay gần bằng năng suất vải của Trung Quốc. Lý do đưa ra do các tổ chức nghiên cứu trung ương và nhất là 3 thành phần tham gia của tỉnh Bắc Giang, cụ thể thành phần chủ yếu HTX, hộ gia đình đã tích cực áp dụng KH&CN trong canh tác vải sớm, vải thiều vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang.

 

Biểu đồ 3: Diễn biến năng suất vải sớm, vải thiều trong CGT, MSX

ở cấp tỉnh, huyện trọng điểm theo thời gian và cluster

Nguồn số liệu: Cục thống kê, Bắc Giang

Trên cơ sở điều tra, đánh giá hiện trường 2 năm (2018, 2019) tại huyện Lục Ngạn, huyện Tân Yên thấy năng suất vải thiều tại huyện Lục Ngạn, cũng như năng suất vải sớm tại huyện Tân Yên có nhỉnh hơn các huyện, thị khác trong khi chất lượng vải thiều ở Lục Ngạn tốt hơn, còn chất lượng vải sớm tốt hơn tại Tân Yên. Vì điều kiện tự nhiên (vải sớm sinh trưởng, phát triển tốt trên đất nhiều sắt, nhôm trong khi vải thiều sinh trưởng, phát triển tốt trên đất nhiều kaly, canxy, maggie và nhiệt độ, lượng mưa) và kinh nghiệm canh tác 2 huyện này tốt hơn. 

2.3. Nghiên cứu phát hiện hạn chế, thách thức cốt lõi trong tổ chức SX&KD 2 loại vải thiều ở Bắc Giang theo chu trình và vòng đời cụm tương hỗ

 (1) Nhận thức và thực hiện quản trị trong SX&KD vải thiều, vải sớm trên cơ sở chu trình và vòng đời cluster 

Điều tra 2 năm (2018, 2019) tại các huyện ở Bắc Giang (tất cả các thành phần tham gia) và tại các bộ ngành liên quan ở Hà Nội, các tỉnh Hải Dương, Quảng Ninh, Thái Nguyên v.v nhóm nghiên cứu thấy rằng, đa phần người tham gia từ cán bộ Nhà nước, người nghiên cứu và đặc biệt là đại diện DN, HTX, hội và các hộ gia đình thực hiện tổ chức SX&KD 2 loại vải còn hạn chế về nhận thức, vì:

- Họ không nhận thức rõ làm cho mình, nên làm thiếu trung thực và làm bằng trí óc, quyết tâm chưa cao (nội hàm quản trị tinh gọn tâm thế Việt Nam) trong tổ chức SX&KD vải thiều, vải sớm vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang trên cơ sở chu trình và vòng đời cụm tương hỗ khai thác, phát huy tiềm năng, lợi thế, dẫn đến quy mô diện tích giảm xuống, chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng yêu cầu;

- Vừa là kết quả, lại vừa là nguyên nhân vì thiếu trung thực nên việc áp dụng chưa đúng các quy trình, quy phạm và lại trình độ hạn chế, quyết tâm triển khai chưa cao đúng nguyên tắc “kết nối, hợp tác, không loại trừ cạnh tranh, liên kết trong và các yếu tố bên ngoài bằng hội” dẫn đến diện tích đạt chứng chỉ, đặc biệt là mã vùng cho thị trường cao cấp rất ít và chất lượng vải sớm, vải thiều chưa cao.     

Biểu 3: Cơ cấu, đổi mới tỗ chức lãnh thổ SX&KD vải thiều, vải sớm

vùng địa lý tập trung tiềm năng, lợi thế theo chu trình và vòng đời cluster

pastedGraphic_4.png

(2) Về khoa học và công nghệ trong tổ chức SX&KD vải sớm, vải thiều trên cơ sở chu trình và vòng đời cụm tương hỗ

Hạn chế về khoa học và công nghệ trong SX&KD vải sớm, vải thiều vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang trên cơ sở chu trình CGT, MSX và vòng đời cụm tương hỗ khai thác, phát huy tiềm năng, lợi thế, cụ thể: 

- Giống vải thiều, vải sớm: Trên cơ sở nghiên cứu và khảo sát hiện trường thấy rằng hạn chế ở giống vải sớm, vải thiều ở Việt Nam nói chung và cụ thể tại tỉnh Bắc Giang nói riêng là vỏ mỏng, hạt to và không đều so với vải Trung Quốc, Thái Lan, Úc. Nguyên nhân do hạn chế tầm nhìn vì chuyển các Viện giống quốc gia thành Công ty giống tư nhân, lại thiếu đưa ra tiêu chuẩn giống quốc gia, thiếu hỗ trợ và thiếu kiểm soát. Công tác lai tạo, tuyển dụng chưa tập trung vào di truyền nên giống vải sớm, vải thiều Việt Nam ở trình độ thấp hơn so với vải Thái Lan, Úc và Trung Quốc. 

- Dây truyền công nghệ bảo quản: Nghiên cứu tại Úc trong 2 năm (2016, 2018) chúng tôi phát hiện có 3 nhóm dây truyền công nghệ bảo quản nông sản với chất lượng và giá thành khác nhau (khoảng 1 triệu USD hay  600 nghìn USD hoặc 300 nghìn USD). Nhóm nghiên cứu khảo sát năm 2018, làm việc trực tiếp tháng 6/2019 với kỹ sư trưởng dây truyền công nghệ đã mua của Israel, ắp đặt tại Công ty Toàn Cầu, thị trấn Lục Ngạn, Bắc Giang thấy dây truyền công nghệ này thuộc nhóm trình độ thấp. Vì kết quả bảo quản vải thiều, vải sớm tại dây truyền công nghệ này tỷ lệ hư hỏng cao (khoàng 30%) và chất lượng chưa đạt yêu cầu thị trường xuất khẩu, thời gian giữ quả vải tươi khó có thể kéo dài được 1 tháng, rõ ràng chưa đạt yêu cầu.

(3) Về nghịch lý mô hình thương mại tiểu ngạch, chính ngạch với Trung Quốc và thương hiệu, tổ chức thương mại trong SX&KD vải thiều ở Bắc Giang 

Điều tra, khảo sát thời gian dài tổ chức SX&KD vải thiều, vải sớm vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang trên cơ sở chu trình CGT, MSX và vòng đời cluster, tất cả các thành phần đều cho rằng khâu thương mại là yếu nhất, cụ thể: 

Thứ nhất về thương mại với Trung Quốc: Việt Nam chấp nhận Mô hình thương mại tiểu ngạch, Trung Quốc mới áp dụng Mô hình thương mại chính ngạch, nhưng bạn thực hiện tùy tiện, thiếu minh bạch, chúng ta tổ chức SX&KD nông sản, cả 2 loại vải thiếu quan tâm đầy đủ khâu thương mại và đặc biệt là tìm hiểu thị trường trong khi chất lượng hạn chế, dẫn đến cạnh tranh, giá trị gia tăng thấp và phát triển kém bền vững mà vải thiều, vải sớm thời gian thu hoạch ngắn, quả tươi khó bảo quản và yêu cầu chất lượng phải được nâng cao hơn, nhất là thị trường sâu nội địa.

Thứ hai về thương hiệu và mở rộng thị trường cao cấp: Nghiên cứu tại Úc, Thái Lan, Hàn Quốc và tìm hiểu sâu thị trường nội địa Trung Quốc như Thượng Hải, Bắc Kinh, Nam Kinh thấy rằng vải thiều, vải sớm Việt Nam chưa trở thành thương hiệu như vải Trung Quốc, vải Thái Lan, vải Úc vì vậy rõ ràng khâu xây dựng thương hiện cho loại sản phẩm này cần làm. Hơn nữa, diện tích, khối lượng và giá trị xuất khẩu mang lại từ thị trường cao cấp (theo mã vùng) còn rất ít, dẫn đến chúng ta và cụ thể các thành phần tham gia cần cố gắng và có cách làm mới đồng bộ từ thượng, trung, đến hạ nguồn, với các thành phần tham gia cụ thể mới khắc phục được. 

3. Kết luận và đề xuất trong tổ chức SX&KD vải thiều, vải sớm ở Bắc Giang trên cơ sở chu trình và vòng đời cluster

3.1. Điểm mạnh, cơ hội trong SX&KD vải thiều, vải sớm ở Bắc Giang trên cơ sở chu trình CGT, MSX và vòng đời cluster

Tóm lại, tổ chức SX&KD vải thiều, vải sớm vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang trên cơ sở chu trình CGT, MSX và vòng đời cluster khai thác, phát huy tiềm năng, lợi thế, nhóm nghiên cứu đưa ra điểm mạnh, cơ hội dưới đây:

a/ Hình thành vùng rộng lớn từ mô hình phát triển về lượng, với điểm mạnh diện tích vải thiều lớn, vải sớm tiến bộ khai thác, phát huy tiềm năng, lợi thế, mang lại giá trị kinh tế, giá trị xã hội lớn trong tổ chức SX&KD vải thiều, vải sớm vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang trên cơ sở chu trình và vòng đời cluster vì vậy Hệ số lan tỏa giảm dần từ năm 2005 (218,1), đến năm 2018 còn 122,3 và Chỉ tiêu chuyên môn hóa lao động đối với loại sản phẩm này (2005 = 43,4 và 2018 = 23,8).

b/ Điểm mạnh nữa là năng suất, chất lượng tổ chức SX&KD vải thiều, vải sớm vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang từng bước tiến bộ, được nâng cao hơn vì vậy sức cạnh tranh, giá trị sản xuất, giá trị xuất khẩu và nhất là giá trị gia tăng, phát triển bền vững hơn theo hướng chuyên nghiệp và đạt đẳng cấp cao hơn trên cơ sở chu trình CGT, MSX và nâng vòng đời cluster, tuy nhiên chỉ ở mức trung bình. Nguyên nhân vì sao Chỉ tiêu chuyên môn hóa vùng tăng (2005 = 40,1 và 2018 = 83,6). 

c/ Tổ chức SX&TT vải thiều, vải sớm vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang đứng trước cơ hội lớn do tiến bộ về KH&CN và KHQT, cụ thể trong triển khai mạnh mẽ R&D, QTTG tâm thế Việt Nam và mở thị trường cao cấp, chuyển nhanh sang mô hình phát triển tập trung gia tăng về chất lượng, tạo ra gia giá trị mới.

3.2. Khó khăn, thách thức chung và cốt lõi trong SX&KD vải thiều, vải sớm ở Bắc Giang trên cơ sở chu trình và vòng đời cluster

3.2. 1. Khó khăn, thách thức chung trong SX&KD vải thiều, vải sớm ở Bắc Giang trên cơ sở chu trình và vòng đời cluster

Như vậy, khó khăn, thách thức chung trong tổ chức SX&KD vải thiều, vải sớm vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang trên cơ sở chu trình CGT, MSX và vòng đời cluster, nhóm nghiên cứu đưa ra cụ thể:

Một là: Mô hình tổ chức SX&KD vải thiều, vải sớm vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang dựa trên mô hình tập trung gia tăng quy mô về lượng dẫn đến quy mô diện tích đang giảm xuống (gần 10%/năm) vì phát triển  ra ngoài vùng tiềm năng, lợi thế, cơ cấu thiếu hợp lý và diện tích đạt mã vùng thị trường cao cấp (Mỹ, Nhật Bản, v.v) rất ít, nên sức cạnh tranh kinh tế, giá trị gia tăng hạn chế và phát triển thiếu bền vững.

Hai là: Nhận thức còn hạn chế trong khi các thành phần tham gia trình độ SX&KD thua một bậc so Trung Quốc, Thái Lan, Úc vì ít DN vừa, HTX kiểu mới, đang ở trình bộ trung bình, thiếu chuyên nghiệp và chưa hiểu đúng về quản trị tinh gọn tâm thế Việt Nam, chưa hoạt động đúng nguyên tắc cụm tương hỗ trên cơ sở chu trình CGT, MSX nên bị chia đoạn, cắt khúc và thiếu kết nối, hợp tác, cạnh tranh, mà chỉ là liên kết.

Ba là: Hệ thống đổi mới quốc gia về KH&CN chưa hoàn thiện, gây trở ngại trong triển khai R&D và I&D trong khi trình độ của tất cả các thành phần tham gia còn nhiều hạn chế do nhận thức, triển khai chưa đúng quản trị tinh gọn tâm thế Việt Nam và thiếu kinh phí, tiếp cận chưa phù hợp, thiếu trang thiết bị, thiếu cập nhật tiến bộ trong tổ chức SX&KD loại hàng hóa này dù là đơn giản như tỉa bớt quả nhỏ nếu quá sai.

3.2. 2. Khó khăn, thách thức cốt lõi trong SX&KD vải thiều, vải sớm ở Bắc Giang trên cơ sở chu trình và vòng đời cluster

Khó khăn, thách thức cốt lõi trong tổ chức SX&TT vải thiều, vải sớm vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang trên cơ sở chu trình CGT, MSX và vòng đời cluster, nhóm nghiên cứu đưa ra cụ thể, như sau:

(1) Nhận thức và thực hiện quản trị tinh gọn tâm thế Việt Nam SX&TT vải thiều vải sớm trên cơ sở chu trình và vòng đời cluster 

Chưa nhận thức, hiểu rõ nội hàm QTTG tâm thế Việt Nam trong tổ chức SX&TT vải thiều, vải sớm vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang, cụ thể là thực hiện chưa đúng quy trình, quy phạm, thiếu chuyên nghiệp và chưa đúng nguyên tắc hoạt động trên cơ sở chu trình và vòng đời cluster khai thác, phát huy tiềm năng, lợi thế, dẫn đến diện tích giảm xuống, sản phẩm chưa đạt đẳng cấp cao đáp ứng yêu cầu thị trường và ít DN vừa, HTX tham gia.

(2) Về khoa học và công nghệ trong tổ chức SX&KD vải sớm, vải thiều trên cơ sở chu trình và vòng đời cụm tương hỗ

Giống vải sớm, vải thiều ở Việt Nam nói chung và cụ thể tại tỉnh Bắc Giang nói riêng vỏ mỏng, hạt to và không đều vì chúng ta chưa đi sâu nghiên cứu, cải tạo giống theo di truyền, mà chỉ lai ghép và nhập khẩu, thiếu quy chuẩn quốc gia. Bên cạnh đó, dây truyền công nghệ bảo quản quả vải tươi lạc hậu, nên cần thay đổi để giải quyết khó khăn, thách thức cốt lõi này đáp ứng yêu cầu thị trường.

(3) Về nghịch lý mô hình tiểu ngạch, chính ngạch với Trung Quốc và thương hiệu, tổ chức thương mại trong SX&KD vải thiều ở Bắc Giang 

Mô hình thương mại tiểu ngạch và Mô hình thương mại chính ngạch đang được thực thi, nhưng Trung Quốc thực hiện tùy tiện, thiếu minh bạch, Việt Nam vẫn cần đàm phán và ký hiệp định thương mại mới, đặc biệt chú trọng thực thi minh bạch. Đối với thị trường cao cấp tìm hiểu sâu thị trường nội địa Trung Quốc và Mỹ, Nhật Bản, Úc, EU, Hàn Quốc v.v để tổ chức SX&KD đạt yêu cầu bằng cả xây dựng thương hiệu và thương mại hiệu quả, nâng cao cạnh tranh, giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

* Ghi chú: Chúng tôi đưa ra nội hàm cụm tương hỗ, gồm: 1/ Đổi mới tổ chức lãnh thổ, phát triển kết cấu hạ tầng và 3 thành phần tham gia (cơ quan Nhà nước, tổ chức nghiên cứu và giữ vị trí, vai trò quan trọng nhất là DN, HTX, trang trại, hội); 2/ Tổ chức sản xuất và kinh doanh sản phẩm trong đó có vải sớm, vải thiều trên cơ sở chu trình CGT, MSX và nâng vòng đời cluster, đảm bảo chuyên nghiệp và đạt đẳng cấp cao trên nguyên tắc hoạt động tự nguyện kết nối, hợp tác, không loại trừ cạnh tranh, liên kết trong và yếu tố bên ngoài bằng hiệp hội; 3/ Tạo ra giá trị mới trên cơ sở triển khai mạnh mẽ nghiên cứu và phát triển (R&D) và đổi mới và phát triển (I&D).

3.3.3. Đề xuất định hướng và giải pháp phát triển cụm tương hỗ vải thiều, vải sớm vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang hiệu quả và bền vững

a. Định hướng và giải pháp chung phát triển cụm tương hỗ vải thiều, vải sớm vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang hiệu quả và bền vững

Định hướng và giải pháp chuyển mô hình tổ chức SX&KD vải thiều, vải sớm vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang dựa trên gia tăng quy mô về lượng, sang mô hình tập trung phát triển về chất lượng khai thác, phát huy tiềm năng, lợi thế, nâng cao diện tích, chất lượng vải thiều, vải sớm đạt mã vùng thị trường cao cấp bằng thay đổi cơ cấu diện tích, giống chất lượng phù hợp bối cảnh mới thách thức, cơ hội đan xen.

Đổi mới nhận thức và triển khai mạnh mẽ quản trị tinh gọn tâm thế Việt Nam, thực hiện đúng quy trình, quy phạm, nguyên tắc hoạt động cluster để tổ chức SX&KD vải thiều, vải sớm lên ngang tâm Trung Quốc, Thái Lan hiện tại nhờ chính sách thu hút, hỗ trợ DN vừa, HTX kiểu mới, hội vươn lên chuyên nghiệp và đạt đẳng cấp cao trên cơ sở chu trình CGT, MSX khắc phục khó khăn, thách thức chung, nâng cao cạnh tranh, giá trị gia tăng và phát triển bền vững trong bối cảnh nhiều cơ hội, nhưng không thiếu thách thức.

Hệ thống đổi mới quốc gia về KH&CN hoàn thiện làm cơ sở để triển khai đồng bộ, mạnh mẽ R&D và I&D trong tổ chức SX&KD vải thiều, vải sớm vùng địa lý tập trung tiềm năng, lợi thế bằng giải pháp cơ chế, chính sách huy động nguồn lực và thực hiện hiệu quả, minh bạch giải pháp để phát triển nguồn nhân lực chất lượng và khắc phục khó khăn, thách thức, nâng cao cạnh tranh và tạo ra giá trị mới, phát triển bền vững.

b. Định hướng và giải pháp cụ thể phát triển cụm tương hỗ vải thiều, vải sớm vùng địa lý tập trung Lục Ngạn, Bắc Giang hiệu quả và bền vững

(1) Định hướng và giải pháp thu hút, mởi rộng và nâng cao nhận thức, trình độ DN, HTX trong SX&KD 2 loại vải trên cơ sở chu trình và vòng đời cluster 

Định hướng thu hút nhiều DN vừa, mở rộng HTX kiểu mới, đồng thời nâng cao trình độ các thành phần tham gia bằng cơ chế, chính sách hỗ trợ, gồm cả quy trình, quy hoạch, nguyên tắc hoạt động và tổ chức thực hiện minh bạch, đảm bảo sự chuyên nghiệp và đạt đẳng cấp cao trên cơ sở chu trình CGT, MSX và nâng vòng đời cluster, với quy mô diện tích, cơ cấu 2 loại vải hợp lý, sản phẩm đạt đẳng cấp cao đáp ứng yêu cầu thị trường, nhất là thị trường cao cấp phù hợp bối cảnh mới.

(2) Định hướng và giải pháp khoa học và công nghệ trong tổ chức SX&KD vải sớm, vải thiều trên cơ sở chu trình và vòng đời cụm tương hỗ

Bằng chính sách, kế hoạch cụ thể hỗ trợ thúc đẩy nghiên cứu tạo ra giống vải sớm, vải thiều quả đều, kích cỡ phù hợp, vỏ dầy, hạt nhỏ cho Việt Nam và tỉnh Bắc Giang nói riêng bằng khoa học di truyền, đồng thời nghiên cứu, lựa chọn dây truyền công nghệ bảo quản quả vải tươi hiệu đại, phù hợp khắc phục khó khăn, thách thức cốt lõi để bảo quản lâu, vận chuyển không bị dập và giải vụ tốt.

(3) Định hướng và giải pháp thương mại với Trung Quốc, xây dựng thương hiệu, tổ chức thương mại đối với SX&KD vải thiều ở Bắc Giang 

Nghiên cứu, đàm phán lại và ký kết hiệp định thương mại với Trung Quốc trên cơ sở quy chuẩn thương mại quốc tế và tổ chức thực thi minh bạch, khắc phục khó khăn, thách thức cốt lõi hiện này. Mặt khác, hỗ trợ nghiên cứu xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường cao cấp (thị trường sâu nội địa Trung Quốc và thị trường các nước đã nêu) đối với sản phẩm vải thiều, vải sớm vùng địa lý tập trung tiềm năng, lợi thế Lục Ngạn, Bắc Giang để nâng cao cạnh tranh và tạo ra giá trị mới. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

a. Tài liệu tiếng Việt 

1. Vũ Thành Tự Anh: Giới thiệu lý thuyết cụm ngành: Phát triển vùng và địa phương (Chương trình giảng dạy Fulbroght). 2013.

2. Bộ Khoa học và Công nghệ: Đề tài “Bảo quản vải thiều bằng công nghệ Juran Israel”. 2015.

3. Bộ Công thương: Đề án “Chương trình đồng bộ phát triển và nâng cấp cụm ngành và chuỗi giá trị sản xuất các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh: Điện tử và Công nghệ thông tin, dệt may, chế biến lương thực, thực phẩm và du lịch và sản phẩm dịch vụ liên quan. 2014.

4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Đề án “Phát triển KCN, CCN, gắn với công nghiệp hỗ trợ, tạo mạng liên kết và hình thành chuỗi giá trị”. 2014.

5. Trương Chí Bình: Đề tài “Đánh giá khả năng phát triển hệ thống cụm ngành công nghiệp như một công cụ của chính sách công nghiệp quốc gia”, Viện nghiên cứu Chiến lược và Chính sách công nghiệp. 2008.

6. Chính phủ: Đề án “Tái cấu trúc kinh tế, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 - 2020. 2013.

7. Chính phủ: Các Đề án “Tái cơ cấu nông nghiệp, công nghiệp gắn chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh và giá trị gia tăng…”. 2014.

8. Chính phủ: Chiến lược CNH Việt Nam trong khuôn khổ Hợp tác Việt Nam - Nhật Bản hướng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và các Bản Kế hoạch hành động kèm theo. 2014 - 2015.

9. Chính phủ: Một số chính sách mới ban hành phát triển sản xuất, kinh doanh sản phẩm chủ lực quốc gia trên cơ sở hình thành cụm tương hỗ. 2014 - 2015. 

10. Chính phủ: Quyết định số: 269 QĐ-TTg ngày 02, tháng 3, năm 2015 phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Bắc Giang đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. 2015.

11. CIEM&IPP: Báo cáo đánh giá năng lực cạnh tranh của cụm ngành dệt may trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh và một số địa phương lân cận. 2013.

12. Cục phát triển doanh nghiệp và UNIDO: Phát triển cụm doanh nghiệp công nghiệp, giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, Kỷ yếu hội thảo. 2010.

13. Micheal E. Porter: Lợi thế cạnh tranh quốc gia. 2008.

17. Hoàng Sỹ Động: Hệ thống đổi mới quốc gia về khoa học và công nghệ, Tạp chí Quản lý Kinh tế. 2014. 

18. Hoàng Sỹ Động: Quy hoạch từ lý thuyết đến thực tiễn ở nước chuyển đổi mô hình phát triển, NXB Khoa học và Kỹ thuật. 2012.

19. Hoàng Sỹ Động&Công tác: Đề tài khoa học cấp bộ “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất ở các KCN, CCN vùng Đồng bằng sông Hồng”. 2012.

20. Hoàng Sỹ Động&Công tác: Đề tài khoa học cấp bộ “Nâng cao giá trị gia tăng của các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu do doanh nghiệp Việt Nam tạo ra”. 2013.

21. Hoàng Sỹ Động&Công tác: Đề tài khoa học cấp bộ “Giải pháp chủ yếu xuất khẩu nông sản chủ lực sang thị trường Trung Quốc trong bối cảnh mới”. 2014.

b) Danh mục tiếng nước ngoài

1. Andy Field: Cluster statistic analysis (Post gradude Document). 2008.

2. Allan, O. Conor: Fostering Innovation, Ecosystems and Entrepreneurship. 2016.

3. Bekele, G.W& Jackson, R. W: Theoretical perspectives on industrial cluster, Wes Viginia University. 2006.

4. Buzon and Bouras, Sureephong…: Cluster development and knowledge exchange in supplay chain. 2010.

5. Bjame, E. Jensen: Danish Cluster Policy: Boosting the Internationalisation and Competitiveness of Danish Region. 2016.

6. Christian Ketels: Apgrading Australia’s competitiveness: The Role of cluster based economic development. 2016.

7. Doyle, E& Fanning, C: The role for cluster in Irish economic development policy, Perspectives on Irish productivity: A selection of essays by Irish and International economists. 2007.

8. Doyle, E and Connell Fanning: Charter 16 the role for Cluster in Irish economic development policy. 2008.

9. Edward, J. Feser: Introduction to Regional Industry Cluster analysis. 2001.

10. Ikuo Kuroiwa and Toh Mun Heng: Production network and Industrial clusters, Intergrating economic in Southeast ASIA. 2008.

.
Bài viết cùng chuyên mục