CN, 12 / 2018 4:07 chiều | htpt
 

Chưa năm nào, Chính phủ lại coi trọng ngành logistics như năm 2018, khi trực tiếp giao nhiệm vụ kinh tế cụ thể như nhiều ngành kinh tế chủ lực khác. Ghi nhận ý kiến của “người trong cuộc” : 

* Ông Lê Duy Hiệp - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam: Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có 5 đơn vị hành chính gồm Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định được xác định có vị trí chiến lược trong sự kết nối với khu vực và quốc tế.

Con số thống kê cho thấy với gần 20 cảng biển lớn, nhỏ. Nhưng tổng sản lượng hàng qua cụm cảng của vùng chiếm một thị phần nhỏ của cả nước. Do mật độ cảng biển dày đặc nên nguồn vốn đầu tư dàn trải, quy mô đầu tư dừng  ở mức độ nhỏ lẻ, thiếu cầu bến cho tàu trọng tải lớn.  Đặc biệt là các bến cho tàu container vận hành trên tuyến biển xa. Do vậy, cảng miền Trung chỉ mới hoạt động mang tính chất gom hàng rồi đem đến cảng Hải Phòng hoặc TP.HCM để xuất hàng.

Điểm yếu của các doanh nghiệp logistics Việt Nam là chi phí dịch vụ còn chưa cạnh tranh tốt, chất lượng cung cấp dịch vụ chưa cao. Nguyên nhân là do doanh nghiệp bị hạn chế về quy mô, vốn, kinh nghiệm và trình độ quản lý, khả năng áp dụng công nghệ thông tin cũng như trình độ nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu hoạt động quốc tế.

Đáng quan ngại quy mô nhỏ, manh mún, thiếu liên kết, nhưng một số doanh nghiệp còn cạnh tranh thiếu lành mạnh, hạ giá dịch vụ để giành hợp đồng, khiến các doanh nghiệp trong nước bị thiệt, còn các doanh nghiệp nước ngoài được hưởng lợi...

Mặt khác, doanh nghiệp Việt không có đầu mối nguồn hàng do Việt Nam chủ yếu (91%) xuất FOB và nhập CIF, ngoài ra có hạn chế về kết cấu hạ tầng logistics và chi phí vận tải trên đường bộ, phụ phí cảng biển do các chủ tàu nước ngoài áp đặt.

Muốn giảm chi phí logistics, cách hiệu quả là phải giảm chi phí vận tải, chiếm hơn 50%. Trong chi phí nhiên liệu – quãng đường – phụ phí chiếm 20%. Mà muốn 3 thứ đó cùng giảm.  Nhà nước sẽ phải ra tay :  giảm giá nhiên liệu, đầu tư vào hệ thống giao thông vận tải để rút ngắn thời gian, quãng đường di chuyển hay bỏ các trạm thu phí, BOT… Đây chính là một vòng luẩn quẩn, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Vì những doanh nghiệp bỏ tiền buôn bán và đầu tư xăng dầu – đường sá đều luôn muốn thu lại nhiều lợi nhuận nhất có thể. Đây rõ ràng là một bài toán  khó giải quyết.

Ngoài ra, Nhà nước cũng nên giúp các doanh nghiệp thuận lợi về thương mại, bằng cách xem xét lại quy trình thông quan. Giảm tối đa việc kiểm tra chuyên ngành,  chúng tiêu tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc của  doanh nghiệp. Tùy từng mặt hàng, nên chuyển sang hậu kiểm hơn là tiền kiểm. Hầu hết các nước phát triển trong khu vực Đông Nam Á, đều đã chuyển sang Chính sách hậu kiểm.

* Ông Phạm Minh Đức, chuyên gia kinh tế cao cấp Ngân hàng Thế giới (WB): Nghiên cứu của WB cho thấy, chi phí thương mại của Việt Nam hiện nay cao hơn mức trung bình của Asean- 4. Trong đó, thời gian tuân thủ thủ tục hành chính nhập khẩu của Việt Nam là 76 giờ, cao hơn đáng kể so với Trung Quốc (54 giờ) và Asean - 4 (28 giờ).

Thời gian tuân thủ thủ tục cửa khẩu cho nhập khẩu của Việt Nam là 56 giờ, tức bằng mức trung bình Asean- 4 và thấp hơn Trung Quốc (72 giờ). Thời gian tuân thủ kể cả thủ tục hành chính và thủ tục tại cửa khẩu cho xuất khẩu của Việt Nam đều cao hơn Trung Quốc và Asean - 4.

Đặc biệt, chi phí logistics của Việt Nam tương đương 20,9% so với GDP, trong đó chi phí vận tải chiếm khoảng 59%. Đây là các mức khá cao so với các nước trên thế giới.

Điểm mạnh của các doanh nghiệp logistics Việt Nam là gần với chủ hàng nhất nên có nhiều lợi thế. Cái mà họ không có lợi là ngành logistics đòi hỏi quy mô vốn, quy mô kiến thức cao. Thiếu kiến thức là điểm yếu nhất của logistics Việt Nam.

Vì thế, theo tôi, việc đầu tiên các doanh nghiệp logistics Việt Nam nên nghĩ tới việc liên kết liên doanh, phối hợp với chủ hàng để tạo quy mô lớn hơn.

Hiện cơ hội rất lớn với ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam nhất là khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.  Đặc biệt khi Việt Nam đang nỗ lực tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việt Nam nên có kế hoạch, chiến lược đào tạo nhân lực logistics vì đây không phải là ngành chân tay mà nó đòi hỏi trí tuệ.

Về chính sách, tôi cho rằng một hành động cần được ưu tiên để giải quyết các thách thức đối với ngành logistics là xây dựng Hệ thống thống kê logistics nhằm thu thập, xử lý và báo cáo chính thức về một cơ sở dữ liệu logistics đáng tin cậy. Bởi đây là vấn đề yếu nhất của logistics Việt Nam.

Hệ thống quản trị dữ liệu quốc gia về logistics phải minh bạch, công khai, không chỉ cung cấp cho việc hoạch định chính sách mà còn giúp các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics cũng như người sử dụng dịch vụ này có cơ sở phát triển các chiến lược kinh doanh của mình.

Để xây dựng thành công hệ thống này, cần học tập kinh nghiệm quốc tế và nỗ lực hợp tác giữa Bộ Giao thông Vận tải, Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan và các doanh nghiệp logistics.

* Ông Shoeib Reza Choudhury, Tổng giám đốc công ty DHL: Những thách thức lớn nhất mà chúng tôi phải đối mặt hiện tại ở Việt Nam là cơ sở hạ tầng và các quy định. Việc thiếu các quy hoạch vùng rõ ràng ở những thành phố xảy ra nhiều lần dẫn tới hệ quả thiếu đất đai dành cho phát triển các mục đích hậu cần.

Điều này kìm hãm các khoản đầu tư dài hạn vì logistics đòi hỏi đầu tư vốn lớn và không gian sẵn có. Các quy định hiện tại cần được cải tiến và tuân thủ nhằm đảm bảo luồng lưu thông hàng hóa nhanh và hiệu quả cho khách hàng.

Tại DHL, chúng tôi không chỉ là một doanh nghiệp về logistics, chúng tôi còn là một công ty công nghệ. Chúng tôi tiếp tục giới thiệu những đổi mới sáng tạo để giúp cho khách hàng của mình có một cuộc sống dễ dàng và thuận tiện hơn.

Giao dịch không giấy tờ (PLT) là một ví dụ tuyệt vời. Đây là một dịch vụ mà ở đó một khách hàng có thể có thể gửi hóa đơn thương mại (và các chứng từ hải quan khác) dưới dạng hình ảnh tới DHL Express qua online. Điều này tiết kiệm cho khách hàng của chúng tôi số tiền đáng kể, ví dụ như chi phí cho giấy in và phương thức này cũng thân thiện với môi trường hơn.

Chúng tôi cũng đã giới thiệu dịch vụ “Giao hàng theo yêu cầu”, nhờ đó khách hàng có thể kiểm soát ngày và vị trí giao hàng của mình một cách thuận tiện.

Ngày nay, trên phạm vi toàn cầu, chúng tôi cũng đang thử nghiệm các công nghệ nổi bật - những thứ hứa hẹn có thể sẽ trở thành một phương thức giao nhận chính ở các thành phố đô thị dày đặc. Chúng tôi kỳ vọng công nghệ của mình sẽ làm cho khách hàng có cuộc sống đơn giản và thuận tiện hơn.

CHÙM ẢNH LOGISTICS VIỆT NAM 2018

 Logistics liên quan đến hiệu quả ít nhất là bảy bộ, trong đó có Bộ Giao thông - Vận tải, Công Thương, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Giáo dục và Đào tạo, Khoa học - Công nghệ, Nội vụ... Song thực chất thời gian qua chỉ có Bộ Công Thương, Bộ Giao thông - Vận tải và Bộ Kế hoạch - Đầu tư tham gia tích cực, các bộ khác còn khá mờ nhạt.

Logistics import export background and transport industry of Container truck and Cargo ship with working crane bridge in shipyard at sunset sky

Doanh nghiệp logistics Việt Nam nên nghĩ tới việc liên kết liên doanh, phối hợp với chủ hàng để tạo quy mô lớn

 Đáng chú ý, gần 70% doanh nghiệp logistics Việt Nam thuộc loại không tài sản; việc đầu tư trang thiết bị, phương tiện vận tải chỉ khoảng 16% và khoảng 4% về kho bãi, cảng, còn lại phải đi thuê ngoài. Chính vì thế, chỉ có 25% thị phần nằm trong tay doanh nghiệp Việt Nam, “miếng bánh” lớn 75% còn lại ở trong tay doanh nghiệp nước ngoài.

Logistics and transportation of International Container Cargo ship in the ocean at twilight sky, Freight Transportation, Shipping

 Trên thế giới, xu hướng lĩnh vực logistics từ vai trò của một ngành phục vụ, trở thành sự kết nối xuyên suốt và quyết định năng lực cạnh tranh của một nền kinh tế, đang đặt ra những yêu cầu thay đổi toàn diện về phương pháp và nguồn lực để thúc đẩy sự đổi mới của lĩnh vực logistics ở mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam.

 Nhờ vị trí địa lý thuận lợi, Việt Nam là điểm chuyển tải cho hàng hóa nhập khẩu từ các nước châu Á qua cảng Cát Lái (TP.HCM) và hàng hóa xuất khẩu đi Hoa Kỳ và EU qua khu vực cảng Cái Mép - Thị Vải (Bà Rịa - Vũng Tàu).

Bên cạnh đó, cùng với tiến trình mở cửa và hội nhập, lượng hàng hóa sản xuất, lưu thông trong nước và xuất nhập khẩu những năm qua tăng trưởng mạnh mẽ là tiền đề và cũng là động lực thúc đẩy phát triển dịch vụ logistics.

Khắc Dzũng – Minh Trí (lược ghi)

 

 

 
 
 
 
 
 
.
Bài viết cùng chuyên mục